Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non là bộ mô tả những gì một giáo viên cần làm được, ban hành kèm Thông tư 26/2018/TT-BGDĐT. Bộ chuẩn có 5 tiêu chuẩn và 15 tiêu chí, mỗi tiêu chí xếp theo ba mức đạt, khá, tốt (dưới mức đạt là chưa đạt). Hằng năm, cuối năm học, giáo viên tự đánh giá kèm minh chứng, tổ chuyên môn góp ý và hiệu trưởng đánh giá, xếp loại.
Nhiều giáo viên coi việc tự đánh giá là thủ tục giấy tờ cuối năm: chép lại phiếu năm trước, đổi ngày, ký. Cách làm đó phí một công cụ khá tốt. Đọc kỹ, bộ chuẩn là một bản đồ nghề: nó cho biết ở từng mảng công việc, mức "đạt" khác mức "tốt" ở chỗ nào, và từ đó gợi ra năm tới nên học gì. Phần dưới đi qua năm tiêu chuẩn, logic ba mức, cách gom minh chứng, những lỗi hay gặp và cách biến kết quả thành kế hoạch.
Năm tiêu chuẩn đọc cho người đang đứng lớp
Bộ chuẩn chia công việc của giáo viên mầm non thành năm mảng. Bảng dưới ghi tên tiêu chuẩn và cách hiểu thực tế trong một ngày làm việc.
| Tiêu chuẩn | Nội dung chính | Trong lớp thể hiện ở đâu |
|---|---|---|
| 1. Phẩm chất nhà giáo | Đạo đức nhà giáo, phong cách làm việc | Cách bạn nói với trẻ lúc mệt, giữ đúng giờ, tôn trọng gia đình trẻ, không để chuyện riêng vào lớp |
| 2. Phát triển chuyên môn, nghiệp vụ | Tự học; lập kế hoạch; nuôi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ; giáo dục phát triển toàn diện; quan sát, đánh giá trẻ | Kế hoạch tuần và ngày, giờ ăn giờ ngủ, hoạt động học và chơi, sổ theo dõi trẻ, nề nếp lớp |
| 3. Xây dựng môi trường giáo dục | Môi trường an toàn, lành mạnh, thân thiện; dân chủ trong nhà trường | Cách bố trí góc chơi, đồ dùng vừa tầm, quy tắc lớp, cách bạn góp ý trong tổ |
| 4. Quan hệ nhà trường, gia đình và cộng đồng | Hợp tác với cha mẹ, phối hợp chăm sóc giáo dục trẻ | Trao đổi giờ đón trả, họp phụ huynh, cách báo một sự cố, cách cùng gia đình hỗ trợ một trẻ |
| 5. Ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc, công nghệ thông tin, khả năng nghệ thuật | Dùng được một ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc, ứng dụng công nghệ, thể hiện năng khiếu nghệ thuật trong hoạt động với trẻ | Hát, kể chuyện, làm đồ dùng, soạn và lưu kế hoạch bằng máy, giao tiếp cơ bản với trẻ người dân tộc hoặc lớp có ngoại ngữ |
Tiêu chuẩn 2 là phần dày nhất, có nhiều tiêu chí nhất. Đó cũng là chỗ khác biệt giữa giáo viên ở mức đạt và mức tốt hiện rõ nhất, vì nó gắn trực tiếp với những gì trẻ trải qua mỗi ngày.
Logic ba mức: đạt, khá, tốt khác nhau ở đâu
Đọc kỹ cách bộ chuẩn mô tả các mức, có thể thấy một quy luật khá nhất quán. Mức đạt là làm đúng việc theo yêu cầu: có kế hoạch, thực hiện kế hoạch, theo dõi trẻ theo mẫu. Mức khá là làm đúng và biết điều chỉnh: thấy hoạt động không hợp với trẻ thì sửa, thấy một trẻ khác thường thì đổi cách tiếp cận. Mức tốt là làm được, điều chỉnh được, và còn hỗ trợ được đồng nghiệp: chia sẻ kinh nghiệm, góp ý, làm mẫu trong tổ.
Quy luật này giúp bạn tự đặt câu hỏi cho từng tiêu chí. Thay vì hỏi "mình có làm việc này không", hãy hỏi ba câu: mình làm đúng chưa; khi thấy chưa ổn, mình đã điều chỉnh như thế nào và có ghi lại không; mình đã giúp ai khác làm việc này chưa. Câu thứ ba thường là câu khiến giáo viên trẻ ít năm nghề khó đạt mức tốt, và điều đó hợp lý: mức tốt mô tả một người đã đủ vững để dẫn người khác.
Một điểm cần nhớ: xếp loại chung của cả năm không phải trung bình cộng. Văn bản đặt điều kiện theo số tiêu chí ở từng mức, và có những tiêu chí được nhấn mạnh hơn. Cách tính cụ thể ghi trong thông tư; khi tự đánh giá, nên mở chính văn bản ra đối chiếu thay vì làm theo trí nhớ của người khác.
Minh chứng: thứ gì được tính, thứ gì không
Mỗi mức tự đánh giá cần có minh chứng, tức là dấu vết thật cho thấy bạn đã làm. Minh chứng tốt là thứ sinh ra trong quá trình làm việc, không phải thứ làm ra để nộp. Kế hoạch giáo dục tuần có dấu chỉnh sửa giữa chừng, sổ theo dõi trẻ ghi những quan sát cụ thể theo ngày, biên bản dự giờ có góp ý của đồng nghiệp, ảnh góc chơi trước và sau khi bố trí lại, ghi chú buổi trao đổi với phụ huynh về một trẻ, đều là minh chứng có giá trị.
Minh chứng yếu là những thứ chung chung: giấy khen không ghi rõ vì việc gì, bản kế hoạch chép từ mẫu không đổi một chữ, ảnh chụp tiết thao giảng duy nhất trong năm. Chúng không sai, nhưng không nói được bạn làm thường ngày ra sao. Khi hiệu trưởng hay tổ chuyên môn đọc, thứ thuyết phục nhất thường là những ghi chép nhỏ, đều, có ngày tháng.
Một thói quen giúp việc cuối năm nhẹ đi rất nhiều: mỗi tháng dành nửa tiếng chọn ra hai ba minh chứng tiêu biểu, đặt vào một thư mục chia theo năm tiêu chuẩn. Cuối năm, bạn chỉ còn việc đọc lại và chọn, thay vì lục lại chín tháng ký ức. Với ảnh có trẻ, lưu theo quy định của trường về hình ảnh trẻ em và không đăng lên mạng cá nhân.
Tự đánh giá từng bước, làm thật chứ không chép
Quy trình dưới đây theo đúng trình tự chính thức nhưng nhấn vào phần giáo viên tự làm, vì đó là phần quyết định kết quả có ích hay không:
- Đọc lại nguyên văn từng tiêu chí và mô tả ba mức trong thông tư. Đừng dựa vào phiếu tóm tắt của năm trước, vì phiếu tóm tắt thường lược mất chỗ phân biệt mức.
- Với mỗi tiêu chí, viết một hai câu mô tả việc bạn thật sự làm trong năm, kèm một ví dụ có ngày tháng. Ví dụ: tháng mười, đổi cách tổ chức giờ ăn vì ba trẻ ăn rất chậm, sau hai tuần thời gian ăn của lớp ổn định hơn.
- Tự chọn mức dựa trên câu mô tả, không dựa trên mức năm ngoái. Nếu không tìm được ví dụ cho mức khá, hãy ghi mức đạt một cách thẳng thắn.
- Gắn minh chứng tương ứng. Một minh chứng có thể dùng cho hai tiêu chí, nhưng đừng để cả bộ hồ sơ dựa vào ba bốn tài liệu.
- Mang bản tự đánh giá vào buổi góp ý của tổ chuyên môn. Lắng nghe chỗ đồng nghiệp thấy khác với bạn, ghi lại, sửa nếu thấy hợp lý.
- Sau khi có kết quả của hiệu trưởng, chọn hai tiêu chí yếu nhất làm trọng tâm học tập năm sau.
Bước cuối là bước hay bị bỏ, trong khi đó chính là lý do bộ chuẩn tồn tại: kết quả đánh giá phải dẫn tới kế hoạch bồi dưỡng của cá nhân và của trường.
Năm lỗi hay gặp khi tự đánh giá
Tự chấm cao cho an toàn. Nhiều người sợ tự ghi mức đạt sẽ bị đánh giá thấp. Thực tế, một bản tự đánh giá khiêm tốn có ví dụ cụ thể đáng tin hơn bản toàn mức tốt mà minh chứng mỏng. Hiệu trưởng đọc nhiều bản mỗi năm và nhận ra rất nhanh.
Tự chấm thấp vì ngại. Ngược lại, có giáo viên làm tốt nhưng ngại ghi mức tốt vì sợ bị coi là tự cao. Nếu bạn đã thật sự hướng dẫn đồng nghiệp mới, đã làm mẫu trong tổ, hãy ghi đúng và đưa minh chứng.
Nhầm thành tích với năng lực. Giải trong một hội thi là một minh chứng, nhưng không thay được việc chứng minh bạn làm tốt thường ngày. Bộ chuẩn đánh giá cả năm, không đánh giá một tiết.
Bỏ qua tiêu chuẩn 4. Quan hệ với gia đình trẻ hay bị viết qua loa vì khó có giấy tờ. Ghi chú các cuộc trao đổi, các lần cùng phụ huynh hỗ trợ một trẻ là minh chứng đủ tốt.
Coi tiêu chuẩn 5 là chuyện năng khiếu bẩm sinh. Khả năng nghệ thuật trong chuẩn là dùng hát, kể, vẽ, làm đồ dùng để giáo dục trẻ, không phải biểu diễn. Người không có giọng hát hay vẫn có thể đạt mức tốt bằng cách tổ chức hoạt động âm nhạc và tạo hình phù hợp.
Ví dụ: tự đánh giá tiêu chí quan sát và đánh giá trẻ
Để thấy cách làm cụ thể, thử đi qua một tiêu chí thuộc tiêu chuẩn 2: quan sát và đánh giá sự phát triển của trẻ. Đây là ví dụ giả định về một giáo viên lớp bốn đến năm tuổi, dạy năm thứ ba.
Câu mô tả việc đã làm: trong năm, cô ghi sổ theo dõi trẻ theo mẫu của trường mỗi cuối chủ đề; từ tháng mười một, cô thêm thói quen ghi ba đến năm quan sát ngắn mỗi tuần, mỗi quan sát gồm thời điểm, trẻ làm gì, nói gì. Nhờ đó cô nhận ra một bé rất ít nói trong giờ học tập thể nhưng nói nhiều ở góc xây dựng, và đã chuyển một phần hoạt động kể chuyện của bé sang góc chơi. Cuối tháng một, cô trao đổi điều này với mẹ bé.
Đối chiếu ba mức: có ghi sổ đúng mẫu là đạt; có quan sát riêng và đã điều chỉnh hoạt động cho một trẻ dựa trên quan sát là bằng chứng của mức khá. Cô chưa hướng dẫn đồng nghiệp nào cách ghi quan sát, nên chưa có cơ sở cho mức tốt. Minh chứng gắn kèm: hai trang sổ quan sát có ngày, kế hoạch tuần có dòng điều chỉnh cho bé, ghi chú buổi trao đổi với phụ huynh. Kế hoạch năm sau: chia sẻ cách ghi quan sát trong một buổi sinh hoạt tổ, đây sẽ là minh chứng cho mức tốt nếu làm được.
Biến kết quả thành kế hoạch học tập của năm sau
Kết quả đánh giá có giá trị khi nó trả lời được câu "năm tới mình học gì". Giả sử hai tiêu chí bạn thấy yếu nhất là quan sát đánh giá trẻ và phối hợp với cha mẹ. Kế hoạch có thể gồm: chọn trong chương trình bồi dưỡng thường xuyên những mô đun liên quan; xin dự giờ một đồng nghiệp ghi chép quan sát tốt; mỗi tuần viết quan sát cho năm trẻ luân phiên; thử một hình thức trao đổi mới với phụ huynh như ghi chú ngắn cuối tuần.
Kế hoạch nên nhỏ và đo được. "Nâng cao kỹ năng quan sát" là khẩu hiệu; "mỗi tuần ghi ít nhất năm quan sát có ngày giờ, cuối tháng đọc lại cùng tổ trưởng" là kế hoạch. Khi cuối năm tự đánh giá lần nữa, bạn có ngay minh chứng cho chính tiêu chí đó.
Với tổ chuyên môn và ban giám hiệu, gom kết quả của cả trường giúp thấy điểm yếu chung. Nếu nhiều giáo viên cùng yếu một tiêu chí, đó là tín hiệu để nhà trường tổ chức sinh hoạt chuyên đề, mời người hướng dẫn, chứ không phải lỗi riêng của từng người.
Câu hỏi thường gặp
Chuẩn nghề nghiệp có áp dụng cho giáo viên trường tư thục không?
Thông tư về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non áp dụng cho giáo viên ở các cơ sở giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân, gồm cả công lập và ngoài công lập. Cách tổ chức đánh giá ở trường tư có thể gọn hơn, nhưng khung tiêu chuẩn và tiêu chí là một.
Kết quả chưa đạt chuẩn nghề nghiệp thì bị gì?
Kết quả đánh giá chủ yếu dùng để xây kế hoạch bồi dưỡng và làm căn cứ cho công tác quản lý nhân sự. Một năm chưa đạt là tín hiệu cần hỗ trợ có trọng tâm; hệ quả cụ thể về hợp đồng hay xếp loại viên chức phụ thuộc quy định quản lý nhân sự khác và quy chế của trường.
Giáo viên mới ra trường năm đầu có phải tự đánh giá không?
Có, việc đánh giá diễn ra hằng năm với giáo viên đang làm việc. Với giáo viên năm đầu, mức đạt ở phần lớn tiêu chí là bình thường; điều quan trọng là ghi được ví dụ thật và chọn đúng hai ba tiêu chí cần người hướng dẫn trong năm thứ hai.
Tự đánh giá khác đánh giá viên chức cuối năm ra sao?
Đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp nhìn vào năng lực nghề theo các tiêu chí chuyên môn. Đánh giá, xếp loại viên chức ở trường công là thủ tục quản lý nhân sự theo quy định riêng về viên chức. Hai việc thường dùng chung một số minh chứng nhưng mục đích và mẫu biểu khác nhau.
Có cần đạt mức tốt để được thăng hạng chức danh nghề nghiệp không?
Tiêu chuẩn của các hạng chức danh có những yêu cầu liên quan tới kết quả đánh giá chuẩn nghề nghiệp và thời gian giữ hạng, nhưng mức yêu cầu cụ thể ghi trong văn bản về chức danh và trong thông báo xét thăng hạng từng đợt. Nên đọc thông báo của địa phương thay vì đoán.