GlobalStar.vnGlobal Star
Xu hướng giáo dục mầm non

Song ngữ hoá mầm non: vì sao tiếng Anh vào lớp mẫu giáo ngày càng sớm và đi tới đâu

Tiếng Anh vào lớp mẫu giáo vì chính sách, nhu cầu phụ huynh và thị trường trường tư. Xu hướng này đổi lớp học, nghề dạy và khoảng cách giữa các vùng ra sao.

Over the shoulder view of a young teacher sitting cross legged with five preschoolers in a circle, singing with hand gestures, wooden toys nearby, airy classroom, soft daylight

Song ngữ hoá mầm non là việc tiếng Anh, và đôi khi một ngoại ngữ khác, được đưa vào sinh hoạt của trẻ từ tuổi mẫu giáo, ở nhiều mức: từ vài tiết làm quen mỗi tuần theo chương trình của Bộ GD&ĐT tới nửa ngày học bằng tiếng Anh ở trường tư. Ba lực đẩy chính là chính sách ngoại ngữ của Nhà nước, mong muốn của phụ huynh đô thị và cạnh tranh giữa các trường ngoài công lập.

Năm 2020, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư 50/2020/TT-BGDĐT về chương trình làm quen tiếng Anh dành cho trẻ em mẫu giáo. Năm 2024 có chủ trương từng bước đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, và theo thông tin công bố cuối năm 2025, đề án triển khai đã được phê duyệt cho giai đoạn tới năm 2035, có nhắc tới bậc mầm non. Bài này không bàn cách dạy hay chọn lớp tiếng Anh cho con (việc đó có trang chuyên về tiếng Anh mầm non trong hệ), mà đọc xu hướng: nó đến từ đâu, đổi những gì trong lớp và để lại khoảng trống nào.

Ba lực đẩy tiếng Anh vào lớp mẫu giáo

Chính sách. Chương trình làm quen tiếng Anh cho trẻ mẫu giáo của Bộ là khung đầu tiên cho việc này ở trường mầm non, áp dụng khi cơ sở đủ điều kiện về giáo viên và cha mẹ có nhu cầu. Chủ trương coi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai trong trường học nâng tầm vấn đề từ một hoạt động thêm thành một mục tiêu của cả hệ thống, và mầm non là bậc đứng đầu chuỗi.

Phụ huynh. Ở đô thị, nhiều bố mẹ tin rằng cho con tiếp xúc sớm sẽ giúp con phát âm tự nhiên hơn và đỡ áp lực ở tiểu học, nơi tiếng Anh đã là môn bắt buộc từ lớp 3 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018. Niềm tin này có phần đúng về phát âm và sự thoải mái khi nghe, nhưng hay bị phóng đại thành “học sớm thì giỏi hơn” ở mọi mặt.

Thị trường trường tư. Khi số trẻ ít đi và trường cạnh tranh nhau, tiếng Anh trở thành điểm khác biệt dễ quảng bá nhất. Chữ “song ngữ” hay “quốc tế” trên biển trường vì thế phổ biến nhanh hơn số giáo viên đủ năng lực để làm đúng điều chữ đó hứa.

Ba lực này không luôn cùng chiều. Chính sách nhấn vào làm quen, tự nguyện và phù hợp lứa tuổi; thị trường thì có xu hướng tăng thời lượng và hứa kết quả. Khoảng cách giữa hai bên là chỗ phụ huynh cần đọc kỹ nhất.

Song ngữ hoá có nhiều mức, không phải một

Cùng được gọi là “có tiếng Anh”, các trường đang làm rất khác nhau. Bảng dưới xếp các mức thường gặp từ nhẹ tới nặng; tên gọi trên biển trường không cho biết trường ở mức nào.

MứcTrẻ tiếp xúc tiếng Anh thế nàoĐiều kiện để làm đúng
Làm quenVài hoạt động ngắn mỗi tuần: bài hát, trò chơi, từ vựng quen thuộcMột giáo viên phát âm chuẩn, hoạt động hợp tuổi, không kiểm tra
Tiết hằng ngàyMỗi ngày một khoảng thời gian cố định bằng tiếng AnhGiáo viên có mặt đều đặn, phối hợp với cô chủ nhiệm
Nửa ngày hoặc theo ngườiMột người lớn chỉ nói tiếng Anh, một người chỉ nói tiếng Việt, cả hai có mặt trong sinh hoạt thường ngàyHai người lớn phối hợp, đủ thời lượng, ổn định qua nhiều năm
Nhúng gần hoàn toànPhần lớn sinh hoạt bằng tiếng AnhGiáo viên mầm non thành thạo tiếng Anh, gia đình giữ tiếng Việt ở nhà

Mức càng cao thì điều kiện càng khó. Cái khó lớn nhất không phải giáo trình mà là người: một giáo viên vừa hiểu trẻ mầm non vừa dùng tiếng Anh tự nhiên trong cả ngày là nguồn nhân lực hiếm, và việc thay giáo viên tiếng Anh liên tục làm mất đi lợi ích của tiếp xúc đều đặn.

Lớp học đổi gì khi có thêm một ngôn ngữ

Thêm tiếng Anh vào ngày học của trẻ không chỉ là thêm một tiết. Nó lấy thời gian từ đâu đó: từ giờ chơi tự do, giờ ra sân, giờ trò chuyện bằng tiếng Việt với cô. Ở trường làm tốt, tiếng Anh được lồng vào chính các hoạt động đó, ví dụ chơi ngoài sân bằng tiếng Anh, nên trẻ không mất gì. Ở trường làm vội, tiếng Anh thành một tiết ngồi học từ vựng trước màn hình, kéo trẻ ngồi yên lâu hơn so với điều tuổi này cần.

Cách chia ngôn ngữ cũng quan trọng. Có trường chia theo người (mỗi người lớn một thứ tiếng), có trường chia theo giờ, có trường chia theo hoạt động. Mỗi cách có lý lẽ riêng; bàn sâu về phương pháp thuộc trang chuyên về phương pháp trong hệ. Ở góc xu hướng, điểm đáng nói là cách chia ngày càng được trường giải thích rõ hơn, vì phụ huynh hỏi kỹ hơn.

Một thay đổi nữa là đồ dùng và môi trường lớp. Góc sách có thêm truyện tranh tiếng Anh, bài hát tiếng Anh vào giờ chuyển tiếp, đồ chơi có nhãn hai thứ tiếng. Những chi tiết nhỏ này cho trẻ gặp ngôn ngữ thứ hai trong bối cảnh có nghĩa, và thường có ích hơn một tiết học dài. Ngược lại, khi tiếng Anh chỉ tồn tại trong một phòng riêng với một giáo viên riêng, trẻ dễ coi nó là “môn học”, không phải một cách nói chuyện.

Điều ít được để ý là tiếng Việt. Trẻ mầm non đang trong giai đoạn xây vốn từ, ngữ pháp và khả năng kể chuyện bằng tiếng mẹ đẻ. Nghiên cứu về trẻ song ngữ nhìn chung không cho thấy việc học hai thứ tiếng gây chậm phát triển ngôn ngữ; điều cần giữ là trẻ vẫn có đủ trò chuyện giàu chữ bằng tiếng Việt ở lớp và ở nhà.

Nghề giáo viên mầm non chịu sức ép kép

Song ngữ hoá đặt người dạy trước hai yêu cầu cùng lúc. Giáo viên mầm non người Việt được đào tạo về phát triển trẻ nhưng phần lớn chưa được đào tạo để dùng tiếng Anh trong lớp. Ngược lại, giáo viên tiếng Anh, kể cả người nước ngoài, nhiều khi giỏi ngôn ngữ nhưng chưa được đào tạo về giáo dục mầm non, nên mang cách dạy của lớp tiểu học hay trung tâm vào lớp trẻ ba, bốn tuổi.

Kết quả là nhiều trường ghép một cô Việt với một giáo viên tiếng Anh, và chất lượng phụ thuộc vào việc hai người có cùng kế hoạch hay không. Khi giáo viên tiếng Anh chỉ ghé lớp một tiết rồi đi, trẻ khó hình thành quan hệ với người đó, và tiếng Anh bị tách khỏi phần còn lại của ngày.

Với người làm nghề, đây vừa là sức ép vừa là cơ hội. Giáo viên mầm non có tiếng Anh đủ dùng trong lớp, hiểu cách trẻ nhỏ tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai, sẽ là nhóm được nhiều trường cần. Chuẩn trình độ, bồi dưỡng và con đường phát triển nghề được bàn ở chuyên mục nghề giáo viên mầm non trên trang này.

Khoảng cách giữa các vùng có thể giãn ra

Một hệ quả ít được nói tới của song ngữ hoá là bất bình đẳng. Trường tư ở đô thị lớn có tiền thuê giáo viên tiếng Anh; trường công ở nông thôn và vùng khó khăn thì còn đang lo đủ giáo viên mầm non cho lớp học bình thường. Nếu tiếng Anh ở mầm non trở thành lợi thế ngầm khi vào tiểu học, trẻ nghèo và trẻ vùng xa sẽ bắt đầu lớp 1 với một khoảng cách mới.

Chủ trương coi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai đặt ra mục tiêu cho cả hệ thống, nhưng khi đọc kỹ các văn bản, lộ trình thường đi trước ở nơi có điều kiện, rồi mới mở rộng. Với trẻ vùng dân tộc thiểu số, câu chuyện còn phức tạp hơn: nhiều em đến lớp mầm non với tiếng mẹ đẻ không phải tiếng Việt, và việc chuẩn bị tiếng Việt trước khi vào lớp 1 đã là một nhiệm vụ lớn.

Cho nên xu hướng song ngữ hoá nên được đọc cùng với câu hỏi: ai được hưởng trước, và các chính sách hỗ trợ có đủ để vùng khó không bị bỏ lại không. Đây là điều người làm chính sách, nhà nghiên cứu và báo chí sẽ cần theo dõi trong những năm tới.

Những câu hỏi còn để ngỏ trong vài năm tới

Song ngữ hoá mầm non đang đi nhanh hơn những câu trả lời cho các câu hỏi nền. Câu hỏi đầu tiên là chuẩn của người dạy: giáo viên mầm non dạy hoặc dùng tiếng Anh trong lớp cần đạt trình độ nào, được bồi dưỡng ở đâu, ai chịu chi phí. Khi chưa có câu trả lời thống nhất, mỗi trường tự đặt mức, và phụ huynh khó so sánh.

Câu hỏi thứ hai là đánh giá. Chương trình mầm non của Việt Nam đánh giá trẻ qua quan sát sự phát triển, không cho điểm. Áp lực từ thị trường lại đẩy về phía báo cáo kết quả tiếng Anh, chứng chỉ cho trẻ nhỏ, bài kiểm tra cuối kỳ. Nếu xu hướng này lan rộng, mầm non có nguy cơ mang vào cả lối thi cử vốn đã là gánh nặng ở các bậc trên.

Câu hỏi thứ ba là tiền. Ở trường công, làm quen tiếng Anh thường qua liên kết và thu phí theo thoả thuận; khi học phí mầm non công lập được miễn từ năm học 2025–2026, khoản thu cho tiếng Anh sẽ được nhìn kỹ hơn. Câu hỏi thứ tư là ngôn ngữ của trẻ dân tộc thiểu số: thêm một ngoại ngữ vào lớp mầm non vùng cao trong khi trẻ còn đang làm quen tiếng Việt là bài toán chưa có lời giải dễ. Người đọc xu hướng nên theo dõi bốn câu này hơn là theo dõi số trường gắn chữ “song ngữ”.

Phụ huynh đọc xu hướng này thế nào cho tỉnh táo

Không cần chống hay chạy theo song ngữ hoá. Vài nguyên tắc giúp đứng giữa:

  • Nhìn vào một ngày của trẻ chứ không nhìn vào tên trường: tiếng Anh chiếm bao nhiêu thời gian và lấy thời gian đó từ hoạt động nào.
  • Ưu tiên sự ổn định của người dạy tiếng Anh hơn quốc tịch của người đó.
  • Tiếng Anh ở tuổi này nên đi qua chơi, hát, kể chuyện, không qua bài kiểm tra hay bảng điểm.
  • Giữ tiếng Việt giàu chữ ở nhà: đọc truyện, trò chuyện, kể lại chuyện trong ngày.
  • Không đổi trường chỉ để có thêm vài tiết tiếng Anh nếu trường hiện tại tốt ở những điều cơ bản như cô ổn định, lớp vừa sĩ số, nhiều giờ chơi.
  • Theo dõi văn bản chính sách mới qua nguồn chính thức của Bộ GD&ĐT, vì lộ trình áp cho mầm non sẽ còn được cụ thể hoá.

Cách đọc lời quảng cáo kiểu “song ngữ chuẩn quốc tế”, “giáo viên bản ngữ” được bàn ở chuyên mục đọc hiểu thông tin trường mầm non.

Câu hỏi thường gặp

Chương trình làm quen tiếng Anh của Bộ có bắt buộc ở mọi trường mầm non không?

Không. Theo Thông tư 50/2020/TT-BGDĐT, chương trình làm quen tiếng Anh dành cho trẻ mẫu giáo được tổ chức ở nơi có đủ điều kiện và trên cơ sở cha mẹ có nhu cầu. Lộ trình mới gắn với chủ trương tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai có thể thay đổi điều này; nên kiểm văn bản hiện hành.

Song ngữ hoá có áp dụng cho trẻ nhà trẻ dưới ba tuổi không?

Khung làm quen tiếng Anh của Bộ nhắm tới trẻ mẫu giáo. Một số trường tư cho trẻ dưới ba tuổi nghe tiếng Anh qua bài hát và sinh hoạt. Với độ tuổi này, ưu tiên vẫn là quan hệ ổn định với người chăm và ngôn ngữ mẹ đẻ phong phú.

Xu hướng này có làm trường mầm non công lập thay đổi không?

Có, nhưng chậm hơn trường tư và không đều giữa các địa phương. Một số trường công ở đô thị đã tổ chức làm quen tiếng Anh, thường qua liên kết với đơn vị bên ngoài và có thu phí theo thoả thuận. Ở nông thôn và vùng khó, việc này còn phụ thuộc nhiều vào nguồn giáo viên.

Ngoài tiếng Anh, có trường mầm non nào dạy ngoại ngữ khác không?

Có một số trường quốc tế hoặc trường gắn với cộng đồng nước ngoài dùng tiếng Pháp, Hàn, Nhật, Trung. Số này ít và tập trung ở vài đô thị lớn. Phần lớn xu hướng song ngữ hoá ở Việt Nam hiện nay là tiếng Anh.

Giáo viên mầm non muốn dạy ở trường song ngữ cần những gì?

Thường cần đạt chuẩn trình độ đào tạo giáo viên mầm non theo Luật Giáo dục 2019, cộng thêm khả năng dùng tiếng Anh trong lớp và hiểu cách trẻ nhỏ tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai. Mỗi trường đặt yêu cầu riêng; chuyên mục nghề giáo viên mầm non trên trang này bàn kỹ hơn.

Song ngữ hoá mầm non ở nước khác diễn ra thế nào?

Nhiều nước châu Á đi cùng hướng nhưng có tranh luận: năm 2018 Hàn Quốc từng có kế hoạch cấm dạy tiếng Anh trong giờ học ở mẫu giáo và nhà trẻ vì lo ngại áp lực học sớm, rồi lùi lại sau phản ứng của phụ huynh. Singapore là trường hợp khác vì song ngữ là chính sách ngôn ngữ quốc gia, tiếng Anh là ngôn ngữ chung của trường học.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 028 6689 3333