GlobalStar.vnGlobal Star
Giáo dục mầm non các nước

Giáo dục mầm non Việt Nam so với các nước: bảng đối chiếu bảy tiêu chí

Đặt mầm non Việt Nam cạnh Phần Lan, Nhật, Singapore, Anh, New Zealand, Hàn Quốc và Mỹ theo bảy tiêu chí: độ tuổi, quản lý, khung chương trình, chi trả, giáo viên.

Early morning at a Vietnamese preschool gate, parents on motorbikes handing small children with backpacks to a teacher in a light blue uniform, frangipani tree above, seen from across the street

So với các nước, giáo dục mầm non Việt Nam có cấu trúc khá gọn: một bậc học thống nhất cho trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi theo Luật Giáo dục 2019, một Chương trình giáo dục mầm non quốc gia, một bộ quản lý là Bộ GD&ĐT, năm cuối mẫu giáo 5 tuổi được phổ cập và trẻ vào lớp 1 năm tròn 6 tuổi. Chỗ Việt Nam khác nhiều nhất là sĩ số lớp, chuẩn trình độ giáo viên và mức đầu tư cho mỗi trẻ.

Bài này đặt Việt Nam cạnh bảy nước mà chuyên mục đã viết riêng, theo cùng một bộ tiêu chí, để phụ huynh và người làm nghề thấy chỗ mình giống, chỗ mình khác, và đọc đúng khi một trường giới thiệu "theo mô hình nước ngoài". Bảng chỉ nêu khung hệ thống; chi tiết từng nước nằm ở bài riêng.

Bảng đối chiếu: độ tuổi, quản lý và tuổi vào lớp 1

Bảng dưới gom ba tiêu chí cấu trúc. Tuổi vào lớp 1 tính theo cách phổ biến của từng nước; có nước tính theo năm sinh, có nước theo ngày sinh.

NướcBậc mầm non gồmĐầu mối quản lýTrẻ vào lớp 1 (hoặc tương đương)
Việt NamNhà trẻ 3–36 tháng, mẫu giáo 3–6 tuổi, một bậcBộ GD&ĐTNăm tròn 6 tuổi
Phần LanECEC trước tuổi đi học, năm dự bị lúc 6 tuổiBộ Giáo dục và Văn hoáNăm tròn 7 tuổi
Nhật BảnYochien, hoikuen, kodomo-en song songHai cơ quan: Bộ Giáo dục và Cơ quan Trẻ em và Gia đìnhTháng 4 sau khi tròn 6 tuổi
SingaporeTrung tâm chăm sóc trẻ và mẫu giáo, một luật cấp phépECDANăm tròn 7 tuổi
AnhEYFS từ sơ sinh đến hết lớp ReceptionBộ Giáo dục, Ofsted thanh traYear 1 lúc 5–6 tuổi; vào Reception lúc 4 tuổi
New ZealandNhiều loại cơ sở, một khung Te WhārikiBộ Giáo dục, ERO đánh giáTừ sinh nhật thứ 5, bắt buộc lúc 6 tuổi
Hàn QuốcYuchiwon và eorinijip, đang hợp nhấtBộ Giáo dục (từ 2024 nhận cả nhà trẻ)Tháng 3, khoảng 6 tuổi tròn
MỹHead Start, pre-K bang, chăm sóc trẻ tưNhiều cấp: liên bang, bang, địa phươngKindergarten lúc 5 tuổi, lớp 1 lúc 6 tuổi

Nhìn cột đầu mối quản lý, Việt Nam thuộc nhóm có cấu trúc thống nhất sớm. Nhật và Hàn Quốc mất nhiều thập niên với cặp giáo dục – phúc lợi; Singapore phải lập một cơ quan chung năm 2013; Mỹ đến nay vẫn chưa có đầu mối quốc gia. Việc đặt nhà trẻ và mẫu giáo vào một bậc học dưới Bộ GD&ĐT là một lợi thế thể chế mà phụ huynh Việt ít để ý.

Khung chương trình: Việt Nam thuộc nhóm viết chi tiết

Chương trình giáo dục mầm non hiện hành được ban hành theo Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT, sửa đổi qua các năm 2016 và 2020, và đã có văn bản hợp nhất. Chương trình chia mục tiêu và nội dung theo năm lĩnh vực phát triển: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm và kỹ năng xã hội, thẩm mỹ. Với mỗi nhóm tuổi có kết quả mong đợi cụ thể. Ngoài ra có Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi ban hành năm 2010, dùng để theo dõi và hỗ trợ trẻ năm cuối mẫu giáo.

Đặt lên một trục từ "khung mở" đến "khung chi tiết", Te Whāriki của New Zealand nằm ở đầu mở: không chia lĩnh vực theo môn, không có kết quả theo tuổi. Phần Lan và Singapore ở giữa: có lĩnh vực và mục tiêu, nhưng để trường tự thiết kế. EYFS của Anh có mười bảy mục tiêu cuối giai đoạn khá cụ thể về đọc viết và toán. Việt Nam, Nhật và Hàn Quốc dùng năm lĩnh vực, trong đó Việt Nam có hệ kết quả mong đợi theo tuổi chi tiết hơn.

Không có vị trí nào trên trục này là đúng tuyệt đối. Khung chi tiết giúp giáo viên mới biết phải làm gì và giúp cơ quan quản lý kiểm tra; khung mở cho phép đi theo từng trẻ nhưng đòi hỏi giáo viên có trình độ cao. Một quốc gia chọn vị trí trên trục tuỳ vào chất lượng đội ngũ mình có.

Ai chi trả: Việt Nam đang dịch chuyển nhanh

Về tài chính, Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển. Trước đây học phí mầm non công lập do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết theo khung của Chính phủ, cộng thêm các khoản thu dịch vụ như bán trú, ăn uống. Năm 2025, Quốc hội thông qua nghị quyết về miễn, hỗ trợ học phí từ mầm non đến phổ thông, áp dụng từ năm học 2025–2026, cùng nghị quyết về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi. Phụ huynh nên đọc văn bản hướng dẫn của địa phương mình để biết khoản nào được miễn, khoản nào vẫn phải đóng.

Đặt cạnh các nước, chữ "miễn học phí" của Việt Nam gần với cách hiểu của Nhật (miễn phần phí cơ bản) và Hàn Quốc (hỗ trợ học phí theo độ tuổi) hơn là với Anh hay New Zealand, nơi nhà nước trả một số giờ mỗi tuần. Phần Lan giữ phí theo thu nhập, Mỹ để phần lớn chi phí cho gia đình trừ Head Start và pre-K của một số bang.

Khác biệt lớn còn lại là trường tư thục. Ở Việt Nam, khu đô thị đông dân dựa nhiều vào trường tư và nhóm trẻ độc lập để bù số chỗ thiếu ở trường công. Cơ chế hỗ trợ cho trẻ học trường tư được nêu trong các văn bản mới nhưng mức cụ thể do Chính phủ và địa phương quy định, nên không thể so như với phiếu dịch vụ ở Phần Lan hay trần học phí ở Singapore.

Người đứng lớp: khoảng cách lớn nhất

Chuẩn trình độ. Luật Giáo dục 2019 nâng chuẩn trình độ giáo viên mầm non lên tốt nghiệp cao đẳng sư phạm trở lên, kèm lộ trình cho người đang làm nghề. Phần Lan, Oklahoma hay lớp Reception ở Anh yêu cầu bằng đại học; Nhật và Hàn Quốc có nhiều con đường từ cao đẳng đến đại học; Singapore yêu cầu văn bằng chuyên ngành cấp diploma trở lên.

Tỷ lệ người lớn trên trẻ. Định mức số trẻ mỗi lớp và số giáo viên mỗi lớp ở Việt Nam do Điều lệ trường mầm non và văn bản về vị trí việc làm quy định, cần đọc bản hiện hành. Trên thực tế ở đô thị, lớp mẫu giáo thường đông hơn nhiều so với mức một người lớn cho bảy trẻ ở Phần Lan hay một cho tám trẻ ở nhà trẻ Anh.

Đào tạo lại và bồi dưỡng. Giáo viên Việt Nam có chế độ bồi dưỡng thường xuyên và chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non. Cách các nước tổ chức phát triển nghề, như khung năng lực của Singapore, được bàn ở chuyên mục nghề giáo viên mầm non của trang.

Câu chuyện đãi ngộ. Gần như nước nào trong bảng cũng gặp bài toán giữ giáo viên mầm non: Nhật thiếu hoikushi, Anh thiếu người ở nhà trẻ tư, Mỹ có tỷ lệ bỏ nghề cao. Việt Nam không phải ngoại lệ. Đây là điểm chung hơn là khác biệt.

Những điều Việt Nam đã làm sớm hơn nhiều nước

So sánh thường nghiêng về phía "nước ngoài tốt hơn". Đặt bảng cạnh nhau cho thấy có vài điểm Việt Nam không đi sau:

  • Một bậc học thống nhất từ 3 tháng tuổi. Như đã nói, đây là điều Nhật chưa có và Hàn Quốc mới bắt đầu.
  • Phổ cập năm cuối trước tiểu học. Chương trình phổ cập mẫu giáo 5 tuổi khởi động năm 2010, cùng thời với nhiều nước giàu bắt đầu bàn về năm dự bị bắt buộc. Phần Lan bắt buộc năm dự bị từ 2015.
  • Mở rộng phổ cập xuống 3 tuổi. Nghị quyết năm 2025 đặt mục tiêu phổ cập cho trẻ 3–5 tuổi, một tham vọng mà nhiều nước có thu nhập cao hơn chưa đặt ra bằng văn bản luật.
  • Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi. Bộ chuẩn năm 2010 cho giáo viên và phụ huynh một ngôn ngữ chung về sự sẵn sàng đi học, tương tự cách Nhật dùng mười hình ảnh mong muốn hay Anh dùng mục tiêu cuối EYFS.
  • Bữa trưa và ngủ trưa tại trường như mặc định. Ở nhiều nước, ăn trưa và giờ ngủ ở trường là dịch vụ thêm; ở Việt Nam, bán trú gần như là chuẩn của trường mầm non đô thị.

Những chỗ Việt Nam còn khó, nhìn qua kinh nghiệm các nước

Chỗ khó thứ nhất là trẻ dưới 3 tuổi. Tỷ lệ trẻ nhà trẻ được đến trường ở Việt Nam thấp hơn nhiều so với trẻ mẫu giáo theo các báo cáo của Bộ GD&ĐT, và nhu cầu gửi trẻ nhỏ ở khu công nghiệp, khu đô thị mới được đáp ứng phần lớn bởi nhóm trẻ độc lập. Đây đúng là nhóm tuổi mà Phần Lan giải bằng nghỉ phép cha mẹ dài cộng trợ cấp chăm con tại nhà, còn Nhật và Hàn Quốc giải bằng mạng lưới nhà trẻ nhỏ được tài trợ. Mỗi lời giải đều tốn ngân sách theo một cách.

Chỗ khó thứ hai là sự chênh lệch giữa đô thị đông dân và vùng khó khăn: một bên thiếu chỗ ở trường công, một bên có trường nhưng nhiều điểm lẻ, giáo viên phải dạy lớp ghép nhiều độ tuổi. Kinh nghiệm Head Start của Mỹ và các chương trình hỗ trợ sớm của Singapore cho thấy với trẻ thuộc gia đình khó khăn, chỗ học là điều kiện cần, còn sức khoẻ, dinh dưỡng và làm việc với gia đình mới quyết định trẻ được lợi bao nhiêu.

Chỗ khó thứ ba là giảm sinh ở đô thị. Hàn Quốc và Nhật là lời nhắc rằng một hệ thống xây cho số trẻ đông có thể phải co lại nhanh, và cách co lại ảnh hưởng tới giáo viên lẫn trường tư thục.

Cách đọc một lời giới thiệu "theo mô hình nước ngoài"

Khi một trường ở Việt Nam nói mình theo chương trình hay mô hình của một nước, bảng so sánh ở trên giúp đặt ra những câu hỏi cụ thể. Có thể đi theo thứ tự sau:

  1. Hỏi trường đang nói tới tầng nào: khung chương trình quốc gia của nước đó (EYFS, NEL, Te Whāriki…), một phương pháp sư phạm, hay một giáo trình thương mại có xuất xứ nước đó.
  2. Đối chiếu với bài riêng về nước đó: khung ấy có thật sự là thứ trường mô tả không. Ví dụ Mỹ không có chương trình mầm non quốc gia, nên "chương trình mầm non Mỹ" cần được nói rõ là của ai.
  3. Hỏi phần đó ghép với Chương trình giáo dục mầm non của Bộ GD&ĐT ra sao. Trường ở Việt Nam phải thực hiện khung quốc gia; phần nước ngoài chỉ có thể là bổ sung.
  4. Hỏi về người đứng lớp: giáo viên được đào tạo theo chuẩn của nước kia hay chỉ được tập huấn ngắn về tài liệu.
  5. Hỏi về sĩ số và số người lớn mỗi lớp. Đây là chỗ khác biệt lớn nhất giữa các nước và là thứ phụ huynh tự đếm được khi đến thăm.

Đọc kỹ giấy tờ và lời quảng cáo của một trường là việc của chuyên mục đọc hiểu thông tin trường mầm non; còn chọn phương pháp nào cho con thì thuộc phần việc của trang chuyên về phương pháp trong hệ Global Star.

Câu hỏi thường gặp

Mầm non Việt Nam có bắt buộc không?

Luật Giáo dục 2019 không quy định mầm non là giáo dục bắt buộc. Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi và, theo nghị quyết năm 2025, mở rộng mục tiêu phổ cập cho trẻ 3 đến 5 tuổi. Phổ cập là trách nhiệm của nhà nước bảo đảm chỗ học, khác với nghĩa vụ đi học.

Năm lĩnh vực phát triển của Việt Nam có giống các nước không?

Khá giống Nhật và Hàn Quốc, cả ba đều dùng năm lĩnh vực với nội dung gần nhau. Anh chia bảy lĩnh vực, Singapore sáu, New Zealand dùng năm mạch nhưng theo logic khác hẳn, không tách đọc viết hay toán thành lĩnh vực riêng.

Trẻ Việt vào lớp 1 sớm hay muộn so với thế giới?

Ở mức phổ biến. Nhiều nước châu Á và châu Âu cho trẻ vào lớp 1 lúc 6 tuổi. Các nước Bắc Âu và Singapore muộn hơn một năm, còn Anh và New Zealand cho trẻ vào trường tiểu học sớm hơn, dù năm đầu vẫn mang tính mầm non.

Có số liệu quốc tế so sánh mầm non Việt Nam không?

UNESCO và UNICEF có số liệu tỷ lệ trẻ đi học mầm non của Việt Nam qua hệ thống thống kê của Viện Thống kê UNESCO. Việt Nam không phải thành viên OECD nên ít xuất hiện trong báo cáo Education at a Glance. Khi trích số liệu, luôn ghi năm và nguồn.

Chuẩn giáo viên cao đẳng của Việt Nam có thấp so với thế giới không?

Thấp hơn nhóm nước yêu cầu bằng đại học như Phần Lan hay lớp Reception ở Anh, nhưng tương đương nhiều nước có con đường cao đẳng như Nhật, Hàn Quốc hay mức diploma của Singapore. Trình độ chỉ là một phần; bồi dưỡng thường xuyên và điều kiện làm việc quyết định không kém.

Có nên chọn trường theo chương trình nước ngoài thay vì chương trình Bộ?

Câu hỏi này đặt sai một chút: trường mầm non ở Việt Nam đều phải thực hiện chương trình của Bộ, phần nước ngoài là bổ sung. Điều nên so là chất lượng thực hiện, sĩ số, giáo viên và môi trường, thay vì tên chương trình.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 028 6689 3333