Te Whāriki là khung chương trình quốc gia cho mọi cơ sở giáo dục mầm non được cấp phép ở New Zealand, ban hành năm 1996 và sửa năm 2017. Tên tiếng Māori có nghĩa là "tấm thảm dệt": bốn nguyên tắc và năm mạch phát triển được đan với nhau, mỗi cơ sở tự dệt chương trình riêng trên khung đó. Đây là một trong những chương trình quốc gia đầu tiên được viết song văn hoá, có phần dành riêng cho các cơ sở dạy hoàn toàn bằng tiếng Māori.
Te Whāriki được giới nghiên cứu mầm non quốc tế nhắc nhiều vì hai lý do: nó không chia trẻ học theo môn, và nó đi kèm một cách đánh giá khác thường, gọi là câu chuyện học tập (learning stories). Bài này giải thích khung đó gồm gì, vận hành trong một hệ có nhiều loại cơ sở ra sao, ai trả tiền và những phê bình mà chính New Zealand đặt ra cho nó.
Một tấm thảm thay cho một bậc thang
Phần lớn chương trình giáo dục được hình dung như bậc thang: học xong nội dung này thì lên nội dung kia. Hai tác giả chính của bản 1996, Helen May và Margaret Carr, cùng các đối tác Māori là Tilly và Tamati Reedy, chọn hình ảnh khác. Tấm thảm whāriki được dệt bằng nhiều sợi đan chéo, mỗi người dệt ra một hoa văn riêng, và đủ rộng để mọi người cùng đứng lên. Khung chương trình vì vậy đưa ra sợi dọc, còn từng cơ sở cùng gia đình và cộng đồng của mình dệt sợi ngang.
Trên thực tế, điều này nghĩa là Te Whāriki không có danh sách nội dung theo tuổi, không có giờ học, không có bài kiểm tra. Nó mô tả loại trải nghiệm trẻ cần và loại năng lực mong muốn trẻ hình thành, để giáo viên từng nơi thiết kế chương trình phù hợp với trẻ và cộng đồng trước mặt. Một nhà trẻ ở thành phố Auckland và một kōhanga reo ở vùng nông thôn dùng chung khung, nhưng chương trình cụ thể trông khác hẳn nhau.
Khung áp cho trẻ từ sơ sinh đến khi vào trường, chia gợi ý theo ba nhóm tuổi chồng lấn: trẻ sơ sinh, trẻ biết đi và trẻ lớn hơn. Bản 2017 viết lại ngôn ngữ cho gọn, rút số kết quả học tập xuống còn hai mươi, và bổ sung phần nói rõ sự chuyển tiếp sang chương trình tiểu học.
Bốn nguyên tắc và năm mạch
Mỗi nguyên tắc và mỗi mạch có tên bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Māori. Hai tên không phải bản dịch từng chữ của nhau, mà mang hai lớp nghĩa văn hoá được đặt cạnh nhau.
| Loại | Tiếng Anh | Tiếng Māori | Ý chính |
|---|---|---|---|
| Nguyên tắc | Empowerment | Whakamana | Chương trình trao cho trẻ sức mạnh để học và lớn lên |
| Nguyên tắc | Holistic development | Kotahitanga | Trẻ phát triển như một tổng thể, không chia mảnh |
| Nguyên tắc | Family and community | Whānau tangata | Gia đình và cộng đồng là một phần của chương trình |
| Nguyên tắc | Relationships | Ngā hononga | Trẻ học qua quan hệ đáp ứng với người, nơi chốn, đồ vật |
| Mạch | Wellbeing | Mana atua | Sức khoẻ, an toàn, được nuôi dưỡng về cảm xúc |
| Mạch | Belonging | Mana whenua | Cảm giác thuộc về nơi mình ở và cộng đồng |
| Mạch | Contribution | Mana tangata | Được đối xử công bằng, được đóng góp, học cùng người khác |
| Mạch | Communication | Mana reo | Ngôn ngữ nói, không lời và các hình thức biểu đạt văn hoá |
| Mạch | Exploration | Mana aotūroa | Khám phá, chơi, tìm hiểu thế giới tự nhiên và vật chất |
Đáng chú ý là không có mạch nào mang tên đọc viết hay toán. Các năng lực đó nằm rải trong mạch giao tiếp và khám phá. Đây là lựa chọn có chủ ý của người viết khung, và cũng là điểm bị phê bình nhiều nhất về sau.
Câu chuyện học tập: đánh giá bằng cách kể
Te Whāriki cần một cách đánh giá hợp với nó. Margaret Carr phát triển phương pháp câu chuyện học tập, trình bày đầy đủ trong cuốn Assessment in Early Childhood Settings: Learning Stories (2001). Thay vì đối chiếu trẻ với danh sách kỹ năng, giáo viên viết những đoạn kể ngắn về một khoảnh khắc trẻ học: trẻ đã làm gì, giáo viên nhận ra điều gì, có thể hỗ trợ tiếp ra sao. Câu chuyện kèm ảnh, lưu vào hồ sơ của trẻ, gia đình đọc và được mời viết thêm.
Phương pháp này dựa trên ý tưởng về các thiên hướng học tập (learning dispositions): sự hứng thú, dấn thân, kiên trì khi gặp khó, biết diễn đạt ý mình, biết nhận trách nhiệm. Carr cho rằng ở tuổi mầm non, những thiên hướng đó quan trọng và bền hơn từng kỹ năng riêng lẻ. Cách viết đi theo hướng ghi nhận điều trẻ làm được, không liệt kê điều trẻ chưa làm được.
Câu chuyện học tập đã lan ra nhiều nước, kể cả các trường quốc tế ở châu Á. Phê bình thường gặp là nó tốn thời gian viết, chất lượng phụ thuộc nhiều vào khả năng quan sát của giáo viên, và đôi khi trôi thành một album ảnh đẹp thiếu phân tích. Các báo cáo của Văn phòng Đánh giá Giáo dục New Zealand (ERO) từng nhắc rằng nhiều cơ sở ghi chép nhiều nhưng ít dùng ghi chép đó để lên kế hoạch tiếp theo cho trẻ.
Nhiều loại cơ sở dưới một khung chung
Một điểm ít người biết là New Zealand có hệ mầm non rất đa dạng về hình thức. Tất cả đều được Bộ Giáo dục cấp phép và theo Te Whāriki:
- Trung tâm giáo dục và chăm sóc. Loại phổ biến nhất, phần lớn do tư nhân hoặc tổ chức cộng đồng mở, mở cả ngày, nhận trẻ từ sơ sinh.
- Kindergarten. Mạng lưới lâu đời do các hiệp hội kindergarten phi lợi nhuận vận hành, nhận trẻ khoảng 2–5 tuổi, có truyền thống đội ngũ toàn giáo viên có chứng chỉ.
- Playcentre. Mô hình do chính cha mẹ điều hành từ những năm 1940, cha mẹ được đào tạo và luân phiên tổ chức hoạt động cho trẻ.
- Kōhanga reo. "Tổ ngôn ngữ", bắt đầu từ năm 1982 như một phong trào phục hồi tiếng Māori, trẻ được chăm sóc và học hoàn toàn bằng tiếng Māori, có phần chương trình riêng trong Te Whāriki.
- Tổ ngôn ngữ Thái Bình Dương. Các nhóm dạy bằng tiếng Samoa, Tonga và các tiếng đảo khác cho cộng đồng gốc Thái Bình Dương.
- Chăm sóc tại nhà có điều phối. Người chăm trẻ tại nhà mình, được một đơn vị có giáo viên đăng ký giám sát.
Sự đa dạng này giải thích vì sao khung chương trình phải rộng. Một khung chi tiết theo kiểu giáo trình không thể vừa với một nhóm cha mẹ tự tổ chức ở Playcentre lẫn một trung tâm tư mở mười tiếng mỗi ngày.
Ai trả tiền và người đứng lớp
Chính sách tài trợ chủ lực là 20 Hours ECE, bắt đầu từ năm 2007: trẻ 3, 4 và 5 tuổi được nhà nước trả cho tối đa 6 giờ mỗi ngày và 20 giờ mỗi tuần tại cơ sở tham gia. Ngoài giờ đó, gia đình trả phí theo giá của cơ sở; cơ sở có thể thu "khoản đóng góp tự nguyện" hoặc phí cho bữa ăn, đi chơi. Gia đình thu nhập thấp có thêm trợ cấp chăm sóc trẻ qua cơ quan an sinh xã hội cho cả trẻ nhỏ hơn.
Kinh phí nhà nước trả cho mỗi trung tâm phụ thuộc một phần vào tỷ lệ giáo viên đã đăng ký trong đội ngũ, theo các nấc tài trợ. Đây là cách New Zealand khuyến khích cơ sở thuê giáo viên có bằng mà không ép mọi nơi giống nhau. Giáo viên mầm non đăng ký với Hội đồng Nghề giáo (Teaching Council) như giáo viên phổ thông, cần bằng giáo dục mầm non được công nhận.
Mục tiêu đưa đội ngũ trung tâm lên toàn bộ là giáo viên có bằng từng được đặt ra trong kế hoạch chiến lược đầu thập niên 2000, sau đó bị nới khi ngân sách thắt chặt, rồi được bàn lại qua nhiều đời chính phủ. Câu chuyện lên xuống đó là ví dụ cho thấy chuẩn giáo viên mầm non ở đâu cũng là bài toán ngân sách trước khi là bài toán sư phạm.
Những phê bình đặt ra cho Te Whāriki
Quá rộng nên chất lượng không đều. Vì khung để mỗi nơi tự dệt, chất lượng chương trình phụ thuộc nặng vào trình độ đội ngũ. Các báo cáo của ERO qua nhiều năm ghi nhận khoảng cách lớn giữa cơ sở làm tốt và cơ sở chỉ dùng tên khung mà không thực hiện tinh thần của nó.
Không nói rõ về đọc viết và toán. Một số nhà nghiên cứu và nhà hoạch định chính sách cho rằng khung thiếu chỉ dẫn cụ thể về ngôn ngữ viết và tư duy số, khiến trẻ thuộc gia đình ít điều kiện vào trường với nền tảng chênh lệch. Bản 2017 đáp lại một phần bằng cách nói rõ hơn về chuyển tiếp sang tiểu học.
Song văn hoá trên giấy và trong lớp. Khung viết song văn hoá, nhưng việc dùng tiếng Māori và thực hành văn hoá Māori trong lớp phụ thuộc giáo viên có năng lực đó hay không. Đây là chủ đề được chính cộng đồng giáo dục New Zealand bàn nhiều.
Giá trị vẫn được thừa nhận. Dù vậy, Te Whāriki vẫn là văn bản được tham khảo nhiều khi các nước viết khung mầm non mới, chính vì nó đặt quan hệ, gia đình và bản sắc văn hoá vào trung tâm. Điều đó không phải ngẫu nhiên mà là kết quả của một quá trình soạn thảo có cộng đồng Māori tham gia từ đầu.
Trẻ New Zealand vào trường thế nào, và chỗ đặt cạnh Việt Nam
New Zealand có cách vào tiểu học đặc biệt: trẻ có thể bắt đầu đi học ngay sau sinh nhật thứ 5, không chờ đầu năm học, và bắt buộc phải đi học từ 6 tuổi. Từ cuối thập niên 2010, trường được phép chọn áp dụng "nhập học theo nhóm", tức là trẻ vào theo đợt đầu học kỳ thay vì từng em một. Như vậy trẻ ở mầm non có thể rời lớp vào bất kỳ tháng nào trong năm.
Đặt cạnh Việt Nam, khác biệt lớn nhất nằm ở cách viết khung. Chương trình giáo dục mầm non của Bộ GD&ĐT có mục tiêu, nội dung và kết quả mong đợi theo từng độ tuổi, kèm Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi; Te Whāriki cố ý không làm vậy. Hai cách có ưu điểm khác nhau: khung chi tiết dễ giám sát và dễ dùng cho giáo viên mới, khung mở cho phép đáp ứng từng trẻ nhưng đòi hỏi giáo viên giỏi.
Ý tưởng từ Te Whāriki dễ vay nhất có lẽ là cách mời gia đình tham gia hồ sơ học tập của con. Một phụ huynh Việt có thể tự hỏi: trường của con có kể cho mình biết con đã học được gì qua một việc cụ thể không, hay chỉ gửi ảnh và nhận xét chung?
Câu hỏi thường gặp
Te Whāriki có bắt buộc với mọi cơ sở mầm non ở New Zealand không?
Có. Từ khi được ban hành chính thức, Te Whāriki là khung chương trình bắt buộc với các cơ sở giáo dục mầm non được cấp phép. Mỗi cơ sở tự xây dựng chương trình cụ thể nhưng phải thể hiện được các nguyên tắc và mạch của khung.
Câu chuyện học tập khác nhật ký ảnh gửi phụ huynh thế nào?
Câu chuyện học tập có ba phần: mô tả điều trẻ làm, phân tích điều trẻ đang học và gợi ý bước hỗ trợ tiếp theo. Nhật ký ảnh thường chỉ có phần đầu. Thiếu phần phân tích và kế hoạch thì đó chưa phải là đánh giá theo đúng tinh thần Carr đề ra.
Mầm non ở New Zealand có miễn phí không?
Không hoàn toàn. Trẻ 3 đến 5 tuổi được nhà nước tài trợ tối đa 20 giờ mỗi tuần qua chương trình 20 Hours ECE. Giờ ngoài phần đó và một số khoản như bữa ăn do gia đình trả. Trẻ dưới 3 tuổi chỉ có trợ cấp theo thu nhập.
Kōhanga reo có nhận trẻ không phải người Māori không?
Kōhanga reo mở cho các gia đình muốn con lớn lên trong tiếng Māori và thường đòi hỏi cam kết của gia đình với ngôn ngữ đó. Mục tiêu chính là phục hồi tiếng Māori, nên phần lớn trẻ đến từ gia đình Māori.
ERO đánh giá cơ sở mầm non như thế nào?
Văn phòng Đánh giá Giáo dục định kỳ xem xét từng cơ sở dựa trên các chỉ báo về học tập, quan hệ, lãnh đạo và tự đánh giá của cơ sở, rồi công bố báo cáo công khai. Phụ huynh New Zealand có thể đọc báo cáo của từng trung tâm trước khi chọn.
Trường ở Việt Nam dùng Te Whāriki có hợp pháp không?
Trường ở Việt Nam phải thực hiện Chương trình giáo dục mầm non của Bộ GD&ĐT. Có thể dùng ý tưởng của Te Whāriki như phần bổ sung, ví dụ cách đánh giá bằng câu chuyện học tập, nhưng không thay được khung quốc gia.