EPPE (Effective Provision of Pre-school Education), về sau mở rộng thành EPPSE, là nghiên cứu theo dõi lớn của Anh bắt đầu năm 1997, đi theo hơn 3.000 trẻ từ khoảng ba tuổi qua tiểu học tới mười sáu tuổi. Kết luận chính: đi học mầm non tốt hơn không đi, lớp có chất lượng cao tạo khác biệt rõ hơn lớp chất lượng thấp, bắt đầu sớm hơn (từ hai đến ba tuổi) có ích hơn học cả ngày thay vì nửa ngày, và những gì cha mẹ làm cùng con ở nhà quan trọng hơn việc cha mẹ là ai.
Khác với Perry Preschool hay Abecedarian, EPPE không phải thử nghiệm một chương trình. Nó quan sát hệ thống mầm non thật đang vận hành ở Anh, đủ mọi loại hình, rồi tìm xem đặc điểm nào của lớp và của gia đình gắn với kết quả của trẻ. Vì vậy nó trả lời câu hỏi gần với phụ huynh hơn: trong các lựa chọn có sẵn, điều gì làm nên khác biệt. Đổi lại, vì là nghiên cứu quan sát, mọi kết luận về nhân quả phải đọc thận trọng hơn.
Ai làm, làm thế nào
Nghiên cứu do Bộ Giáo dục Anh khi đó tài trợ, nhóm chủ trì gồm Kathy Sylva (Đại học Oxford), Edward Melhuish, Pam Sammons, Iram Siraj-Blatchford và Brenda Taggart. Họ chọn 141 cơ sở mầm non ở sáu vùng của nước Anh, thuộc các loại hình phổ biến: trường mầm non công (nursery school), lớp mầm non gắn với trường tiểu học, nhóm chơi (playgroup), nhà trẻ tư nhân, cơ sở của chính quyền địa phương và các trung tâm tích hợp vừa giáo dục vừa chăm sóc. Thêm vào đó là một nhóm khoảng ba trăm trẻ không đi học mầm non làm mốc so sánh.
Mỗi trẻ được đánh giá khi vào nghiên cứu, khi vào tiểu học và nhiều lần sau đó. Gia đình được phỏng vấn về học vấn, thu nhập, nghề nghiệp, và đặc biệt về các hoạt động ở nhà. Mỗi lớp được quan sát bằng thang đo chuẩn hoá: ECERS-R của Mỹ, và một thang bổ sung do chính nhóm phát triển cho bối cảnh Anh là ECERS-E, chú trọng đọc viết, toán, khoa học và sự đa dạng.
Nhờ có dữ liệu chi tiết về gia đình, nhóm nghiên cứu dùng mô hình thống kê đa tầng để tách phần ảnh hưởng của lớp học khỏi phần ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình. Đây là cách tốt nhất khi không thể phân nhóm ngẫu nhiên, nhưng không loại trừ được hoàn toàn khả năng những gia đình chọn lớp tốt khác những gia đình khác ở các điểm không đo được.
Năm phát hiện được nhắc nhiều nhất
Đi học mầm non có ích, nhất là với trẻ thiệt thòi. Trẻ đi học mầm non có kết quả nhận thức và hành vi xã hội tốt hơn trẻ không đi khi vào tiểu học, sau khi đã tính đến hoàn cảnh gia đình. Trẻ có nguy cơ cao, như cha mẹ học vấn thấp hoặc gặp khó khăn về ngôn ngữ, hưởng lợi rõ, nhất là khi được học ở lớp chất lượng tốt có trẻ thuộc nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Chất lượng quyết định độ lớn của tác động. Trẻ học ở cơ sở có điểm quan sát cao đi xa hơn trẻ học ở cơ sở điểm thấp, và khác biệt còn nhìn thấy ở nhiều năm sau. Theo các báo cáo ở giai đoạn sau, mầm non chất lượng thấp thường chỉ để lại ít dấu vết tới tuổi trung học.
Thời lượng tính bằng tháng có ý nghĩa hơn tính bằng giờ. Bắt đầu sớm hơn, khoảng từ hai đến ba tuổi, gắn với kết quả nhận thức tốt hơn. Nhưng học cả ngày không cho kết quả tốt hơn học nửa ngày. Phát hiện này hay bị bỏ qua và rất đáng nhớ với gia đình đang cân nhắc giờ gửi trẻ.
Loại hình và người dạy. Các trường mầm non công và trung tâm tích hợp thường có điểm chất lượng cao hơn, và tỷ lệ giáo viên có trình độ sư phạm trong đội ngũ gắn với chất lượng tốt hơn. Nhóm nghiên cứu ghi nhận rằng nơi nào có người được đào tạo bài bản làm trưởng lớp thì các nhân viên khác cũng làm tốt hơn.
Môi trường học tại nhà mạnh hơn nghề nghiệp của cha mẹ. Chỉ số môi trường học tại nhà, gồm đọc cùng con, hát và đọc thơ, chơi với chữ và số, vẽ tô, đi thư viện, cho con chơi với bạn, có tác động mạnh hơn học vấn hay thu nhập của cha mẹ. Câu nhóm nghiên cứu hay dùng là: điều cha mẹ làm quan trọng hơn cha mẹ là ai.
Thang ECERS-E: nhóm đo gì ở lớp học Anh
ECERS-E được tạo ra vì nhóm nghiên cứu thấy ECERS-R chủ yếu đo không gian, sinh hoạt, chăm sóc, chưa đo kỹ cách người lớn hỗ trợ việc học của trẻ. Bốn phần của thang bổ sung:
| Phần | Người quan sát để ý điều gì |
|---|---|
| Đọc viết | Có góc sách hấp dẫn không, người lớn đọc cho trẻ thế nào, trẻ có được tiếp xúc với âm, vần, chữ trong ngữ cảnh có nghĩa không, trẻ có được thử "viết" theo cách của mình không |
| Toán | Đếm và so sánh số lượng trong sinh hoạt thật, hình khối, đo lường, sắp xếp, dùng ngôn ngữ toán như nhiều hơn, ít hơn, dài hơn |
| Khoa học và môi trường | Vật liệu tự nhiên, quan sát cây cối, thí nghiệm đơn giản, người lớn đặt câu hỏi gợi trẻ đoán và kiểm tra |
| Đa dạng | Lớp có tính đến nhu cầu riêng của từng trẻ không, có tôn trọng khác biệt về giới, văn hoá, ngôn ngữ, hoàn cảnh không |
Ở Việt Nam, các mục này gần với lĩnh vực phát triển nhận thức và ngôn ngữ trong Chương trình Giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng khác ở chỗ nó đo cách người lớn thực sự làm trong giờ học, không đo kế hoạch trên giấy. Đây cũng là bài học phương pháp chính: chất lượng phải được quan sát, không thể suy ra từ chương trình đăng ký.
Tư duy chia sẻ bền vững: phát hiện từ những lớp tốt nhất
Song song với EPPE, nhóm của Iram Siraj-Blatchford thực hiện nghiên cứu REPEY (Researching Effective Pedagogy in the Early Years), công bố năm 2002, đi sâu vào các cơ sở có kết quả tốt nhất để xem người lớn ở đó làm gì khác. Một khái niệm nổi lên từ đây là sustained shared thinking, thường dịch là tư duy chia sẻ bền vững.
Khái niệm này chỉ những lúc người lớn và trẻ, hoặc hai trẻ với nhau, cùng theo đuổi một vấn đề qua nhiều lượt trao đổi: làm rõ một ý, đánh giá một việc vừa làm, mở rộng một câu chuyện, cùng giải quyết một trục trặc. Điểm mấu chốt là cả hai bên đều đóng góp vào suy nghĩ và cuộc trao đổi kéo dài, không dừng ở một câu hỏi đóng có đáp án sẵn của cô.
Nhóm nghiên cứu nhận thấy những khoảnh khắc như vậy xuất hiện nhiều hơn ở các cơ sở có kết quả tốt, nhưng nhìn chung vẫn hiếm. Phần lớn lời nói của người lớn trong lớp là chỉ dẫn, nhắc nhở và câu hỏi kiểm tra. Về sau, Iram Siraj cùng Denise Kingston và Edward Melhuish phát triển thang SSTEW (2015) để đo riêng tư duy chia sẻ bền vững và sự an ổn cảm xúc. Với người đi xem lớp, đây là thứ đáng nghe nhất: cô có hỏi "vì sao con nghĩ vậy" và chờ trẻ trả lời không.
Từ nghiên cứu tới chính sách mầm non của Anh
EPPE được nhắc như một trong những nghiên cứu có ảnh hưởng nhất tới chính sách mầm non Anh trong hai thập niên sau đó. Khi nước Anh mở rộng số giờ mầm non miễn phí cho mọi trẻ ba và bốn tuổi, rồi mở thêm cho trẻ hai tuổi thuộc gia đình khó khăn, phát hiện "bắt đầu sớm hơn có ích, nhất là với trẻ thiệt thòi" là một lý lẽ được dùng nhiều. Khung chương trình Early Years Foundation Stage áp dụng từ năm 2008 cũng chú trọng mối quan hệ giữa người lớn và trẻ cùng vai trò của gia đình, trùng với các phát hiện về tương tác và môi trường học ở nhà.
Phát hiện về trình độ người dạy dẫn tới các nỗ lực đưa người có bằng đại học vào vị trí dẫn dắt ở nhà trẻ tư nhân và nhóm chơi. Kết quả của những chính sách này đến đâu lại là câu hỏi khác, được các nghiên cứu sau đánh giá, có phần thành công và có phần chưa. Bài học cho người đọc ở Việt Nam là một nghiên cứu tốt có thể định hướng chính sách, nhưng triển khai mới quyết định chất lượng thật trong từng lớp.
Giới hạn của EPPE và cách đọc cho đúng
Giới hạn đầu tiên là thiết kế quan sát. Dù đã kiểm soát rất nhiều biến về gia đình, nghiên cứu không loại trừ được hết những khác biệt không đo, như mức quan tâm của cha mẹ tới việc chọn lớp. Các mối liên hệ giữa chất lượng và kết quả vì vậy là bằng chứng mạnh về quan hệ, nhưng không mạnh bằng một thử nghiệm ngẫu nhiên về nhân quả.
Thứ hai, độ lớn tác động không nên phóng đại. Ảnh hưởng của mầm non lên kết quả ở tuổi mười sáu là có, nhưng nhỏ hơn ảnh hưởng của môi trường học ở nhà và của chất lượng trường tiểu học, trung học mà trẻ theo học sau đó. Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh rằng mầm non, gia đình và trường phổ thông cộng dồn với nhau, không có giai đoạn nào thay thế được giai đoạn khác.
Thứ ba, bối cảnh là nước Anh cuối thập niên 1990, khi hệ thống mầm non đang mở rộng và có sự khác biệt lớn giữa các loại hình. Tên các loại cơ sở không tương ứng một một với Việt Nam. Nhưng câu hỏi nghiên cứu đặt ra, rằng trong một hệ thống nhiều loại hình thì đặc điểm nào tạo nên chất lượng, lại rất gần với hoàn cảnh ở các đô thị Việt Nam, nơi trường công, trường tư, nhóm trẻ độc lập và lớp mầm non trong khu dân cư cùng tồn tại.
Bộ câu hỏi rút ra từ EPPE khi đi xem một lớp mầm non
Không có cách nào chấm ECERS trong một buổi tham quan, nhưng các phát hiện của EPPE gợi ra những điều có thể để ý hoặc hỏi thẳng:
- Người phụ trách lớp được đào tạo sư phạm mầm non ở trình độ nào, và có ở lâu với lớp không?
- Trong lúc trẻ chơi, người lớn có ngồi cùng, trò chuyện, hỏi những câu mở, hay chủ yếu đứng trông?
- Lớp có góc sách, vật liệu để đếm, đo, so sánh, vật liệu tự nhiên để quan sát mà trẻ được tự lấy không?
- Trường gợi ý gì cho cha mẹ về hoạt động ở nhà: đọc cùng con, hát, chơi với chữ và số?
- Nếu cân nhắc giữa nửa ngày và cả ngày, gia đình cần cả ngày vì công việc hay vì nghĩ con sẽ học được nhiều hơn? EPPE không thấy cả ngày cho kết quả học tốt hơn.
- Lớp có đón trẻ thuộc nhiều hoàn cảnh khác nhau và có cách hỗ trợ trẻ cần giúp thêm không?
Những câu hỏi này không nhằm chấm điểm một trường, mà giúp chuyển sự chú ý từ cơ sở vật chất và tên chương trình sang thứ EPPE thấy là quan trọng: con người và tương tác trong lớp, cộng với những gì diễn ra ở nhà.
Câu hỏi thường gặp
EPPE và EPPSE khác nhau thế nào?
Cùng một nghiên cứu, cùng nhóm trẻ, chỉ khác giai đoạn theo dõi. EPPE ban đầu bao giai đoạn mầm non tới đầu tiểu học, sau mở rộng tới cuối tiểu học. Khi tiếp tục theo dõi qua trung học tới mười sáu tuổi, nghiên cứu được đổi tên thành Effective Pre-school, Primary and Secondary Education, viết tắt EPPSE.
Chỉ số môi trường học tại nhà gồm những hoạt động gì?
Theo mô tả của nhóm nghiên cứu, chỉ số gồm các hoạt động như đọc cho con nghe, đi thư viện, chơi với chữ cái và con số, hát và đọc thơ, vẽ tô, dạy con bài hát, cho con chơi với bạn ở nhà. Mỗi hoạt động được hỏi theo tần suất rồi cộng lại thành một điểm chung.
Vì sao học cả ngày không tốt hơn nửa ngày?
Nghiên cứu ghi nhận kết quả mà không chứng minh được nguyên nhân. Một cách giải thích là phần giáo dục có chủ đích của mỗi ngày không tăng tương ứng với số giờ, phần thêm vào chủ yếu là chăm sóc. Gia đình cần gửi cả ngày vì công việc không nên lo lắng, nhưng cũng không nên gửi cả ngày chỉ vì nghĩ con học được nhiều hơn.
EPPE có nói gì về trẻ dưới hai tuổi không?
Nghiên cứu nhận trẻ từ khoảng ba tuổi, nên không đánh giá trực tiếp chăm sóc nhũ nhi. Thông tin về độ tuổi bắt đầu đến từ việc hỏi lại thời điểm trẻ bắt đầu đi học. Câu hỏi về trẻ dưới hai tuổi cần tham khảo các nghiên cứu khác, như nghiên cứu chăm sóc trẻ sớm của Viện Sức khoẻ Trẻ em Quốc gia Hoa Kỳ.
Thang ECERS-E có dùng được ở Việt Nam không?
Thang được thiết kế cho bối cảnh Anh và cần người quan sát được đào tạo. Về nguyên tắc có thể chuyển ngữ và điều chỉnh, nhưng phải kiểm tra lại độ tin cậy trong bối cảnh mới. Với phụ huynh, giá trị chính là danh sách những điều nên để ý khi xem lớp, không phải điểm số.
Tác động của mầm non có còn tới tuổi mười sáu không?
Theo các báo cáo giai đoạn cuối, có một phần tác động còn lại, rõ hơn với mầm non chất lượng cao và với một số kết quả như điểm thi và hành vi xã hội. Tuy vậy, ảnh hưởng của môi trường học ở nhà và của trường phổ thông về sau lớn hơn, nên không nên kỳ vọng mầm non tự nó quyết định kết quả học tập dài hạn.