GlobalStar.vnGlobal Star
Nghiên cứu về giáo dục sớm

Đường cong Heckman là gì: lập luận đầu tư sớm cho trẻ và những phản biện

Đường cong Heckman nói đầu tư vào kỹ năng con người sinh lời nhất khi làm sớm. Nó dựa trên lý lẽ gì, bằng chứng nào và bị phản biện ra sao.

Over the shoulder view of an economist at a wooden desk at dusk, blank notebook and coffee cup, window behind showing city lights, muted blue and amber tones

Đường cong Heckman là một hình vẽ của nhà kinh tế James Heckman (giải Nobel Kinh tế năm 2000) cho thấy tỷ suất sinh lời của mỗi đồng đầu tư vào con người cao nhất ở những năm đầu đời và giảm dần theo tuổi: chương trình cho trẻ trước tuổi đi học sinh lời hơn chương trình ở trường phổ thông, và cao hơn hẳn đào tạo nghề cho người trưởng thành. Lập luận phía sau là "kỹ năng sinh ra kỹ năng": thứ học được sớm làm cho việc học về sau dễ và rẻ hơn.

Hình vẽ này xuất hiện trong rất nhiều bài thuyết trình về chính sách mầm non, và cũng trong không ít tài liệu quảng bá của trường tư. Điều ít được nói là nó trước hết là một mô hình lý thuyết, được minh hoạ bằng dữ liệu từ vài chương trình rất cụ thể cho trẻ thiệt thòi, và đã bị một số nhà nghiên cứu kiểm lại với kết quả không ủng hộ. Phần dưới tách riêng ba lớp: ý tưởng, bằng chứng, phản biện.

Hình vẽ nói gì và không nói gì

Trục hoành của đường cong là tuổi của người được đầu tư, từ trước khi sinh tới tuổi trưởng thành. Trục tung là tỷ suất sinh lời của một đồng chi thêm. Đường cong dốc xuống: cao nhất ở giai đoạn trước ba tuổi và mẫu giáo, thấp hơn ở tuổi đi học, thấp nhất ở đào tạo lại cho người lớn. Heckman thường vẽ nó trong các bài viết và bài giảng dành cho người làm chính sách từ giữa thập niên 2000.

Đọc kỹ, hình vẽ nói về tỷ suất biên, tức lợi ích của đồng tiếp theo, trong điều kiện các khoản đầu tư khác đang ở mức hiện tại. Nó không nói rằng nên dồn hết ngân sách giáo dục cho mầm non, cũng không nói đầu tư ở tuổi đi học là phí. Heckman tự nhấn mạnh rằng đầu tư sớm cần được tiếp nối bằng đầu tư về sau, vì hai giai đoạn bổ sung cho nhau.

Hình vẽ cũng ngầm giả định đối tượng là trẻ thiếu điều kiện. Với một đứa trẻ đã được gia đình đầu tư rất nhiều, đồng tiền chi thêm từ bên ngoài có thể sinh lời thấp hơn nhiều. Khi đường cong bị trích như một quy luật chung cho mọi trẻ, nó đã bị kéo ra ngoài phạm vi mà người vẽ đặt ra.

Lý thuyết hình thành kỹ năng: tự sinh và bổ trợ

Nền lý thuyết của đường cong nằm trong bài "The Technology of Skill Formation" của Flavio Cunha và James Heckman, công bố năm 2007 trên American Economic Review. Hai tác giả mô hình hoá việc hình thành kỹ năng qua nhiều giai đoạn với hai tính chất. Thứ nhất là tự sinh (self-productivity): kỹ năng có ở giai đoạn này làm tăng kỹ năng ở giai đoạn sau, kể cả lan sang loại kỹ năng khác, ví dụ sự kiên trì giúp học toán tốt hơn. Thứ hai là bổ trợ động (dynamic complementarity): kỹ năng có sẵn càng cao thì một khoản đầu tư mới càng sinh lời.

Ghép hai tính chất lại sẽ ra kết luận: đầu tư sớm vừa trực tiếp tạo kỹ năng, vừa làm cho mọi khoản đầu tư sau đó hiệu quả hơn. Ngược lại, bù đắp muộn cho một đứa trẻ thiếu nền tảng là tốn kém, vì đồng tiền rơi vào nơi kỹ năng nền thấp. Đây chính là cơ chế làm đường cong dốc xuống.

Một đóng góp quan trọng khác của dòng nghiên cứu này là coi kỹ năng phi nhận thức, như tự chủ, kiên trì, biết hợp tác, ngang hàng với kỹ năng nhận thức. Heckman đi tới quan điểm này một phần từ việc thấy Perry Preschool không giữ được IQ nhưng vẫn thay đổi cuộc đời người tham gia. Ông cũng phân tích chương trình GED của Mỹ, bằng tương đương tốt nghiệp trung học, và thấy người có bằng GED có kết quả thị trường lao động kém hơn người tốt nghiệp bình thường dù điểm kiểm tra tương tự, gợi ý rằng thứ khác biệt là những phẩm chất bài thi không đo.

Bằng chứng thực nghiệm được dùng để minh hoạ

Các ước tính tỷ suất sinh lời mà Heckman và cộng sự đưa ra chủ yếu dựa trên một nhóm nhỏ chương trình được đánh giá kỹ:

  • Perry Preschool: phân tích năm 2010 trên Journal of Public Economics ước tính tỷ suất sinh lời xã hội khoảng 7 đến 10 phần trăm mỗi năm.
  • Abecedarian và CARE: phân tích năm 2020 trên Journal of Political Economy ước tính khoảng 13 phần trăm mỗi năm, có tính cả lợi ích cho cha mẹ đi làm được.
  • Dữ liệu theo dõi quốc gia của Mỹ: dùng để ước lượng mô hình hình thành kỹ năng, cho thấy đầu tư của cha mẹ ở các giai đoạn khác nhau có hệ số khác nhau.
  • Nghiên cứu đối chiếu đào tạo nghề cho người lớn: nhiều chương trình đào tạo lại ở Mỹ được đánh giá có tác động khiêm tốn, làm nền cho phần cuối thấp của đường cong.

Điều cần thấy là phần đầu cao của đường cong dựa vào vài chương trình mẫu nhỏ, cường độ cao, cho trẻ nhiều rủi ro. Đó là bằng chứng chất lượng tốt cho câu hỏi "chương trình tốt cho trẻ thiệt thòi có sinh lời không", nhưng yếu hơn nhiều cho câu hỏi "giáo dục mầm non nói chung có sinh lời hơn giáo dục phổ thông không".

Những phản biện đáng nghe

Kiểm lại trên nhiều chương trình thì không thấy đường dốc. Năm 2020, David Rea và Tony Burton, hai nhà nghiên cứu chính sách ở New Zealand, công bố trên Journal of Economic Surveys một phân tích dùng cơ sở dữ liệu đánh giá chi phí lợi ích của Viện Chính sách Công bang Washington. Họ so tỷ suất của nhiều chương trình xã hội theo tuổi đối tượng và không tìm thấy mối quan hệ dốc xuống rõ ràng như đường cong vẽ. Nhiều chương trình cho trẻ nhỏ có hiệu quả thấp, và có chương trình cho thanh thiếu niên hay người lớn sinh lời cao.

Chương trình mẫu khác chương trình đại trà. Perry và Abecedarian là chương trình thí điểm do chính đội nghiên cứu vận hành. Các chương trình công quy mô lớn như Head Start hay mẫu giáo công ở Tennessee có kết quả không đồng nhất, có nơi tác động phai nhanh, có nơi thậm chí âm ở một số chỉ tiêu. Lấy tỷ suất của bản mẫu áp cho chính sách đại trà là bỏ qua khó khăn của việc nhân rộng.

Tỷ suất nhạy với giả định. Phần lớn lợi ích quy ra tiền đến từ giảm tội phạm và tăng thu nhập dự báo tới cuối đời. Thay đổi giá trị thiệt hại của một vụ phạm tội, hay cách ngoại suy thu nhập, có thể làm con số thay đổi đáng kể.

Bỏ ngỏ câu hỏi chi phí cơ hội. Đường cong cho biết chỗ nào sinh lời cao, nhưng chính sách cần biết nên chuyển tiền từ đâu sang. Nếu chuyển từ một chương trình phổ thông đang hiệu quả sang một chương trình mầm non chất lượng kém, kết quả có thể tệ hơn trước.

Phổ cập cho mọi trẻ hay ưu tiên trẻ thiệt thòi

Một hệ quả chính sách của đường cong hay bị bỏ qua là câu hỏi về đối tượng. Nếu tỷ suất cao nhất đến từ trẻ thiếu đầu tư ở nhà, thì về logic, đồng tiền công nên ưu tiên các em trước. Heckman nhiều lần lập luận theo hướng này và tỏ ra dè dặt với chương trình phổ cập đồng loạt cho mọi gia đình, vì phần ngân sách chi cho trẻ đã được đầu tư nhiều sinh lời thấp hơn.

Phía ủng hộ phổ cập phản bác bằng ba lý lẽ. Chương trình nhắm mục tiêu dễ bỏ sót những gia đình nằm sát ngưỡng và dễ mang tiếng "lớp cho người nghèo", làm phụ huynh ngại gửi con. Lớp có trẻ thuộc nhiều hoàn cảnh khác nhau, như EPPE ở Anh ghi nhận, có lợi cho trẻ thiệt thòi. Và một số đánh giá chương trình phổ cập, như mẫu giáo công ở Boston, cho thấy tác động dài hạn đáng kể. Cuộc tranh luận này chưa ngã ngũ, và câu trả lời có lẽ khác nhau theo từng nước, từng mức ngân sách.

Việt Nam đi theo hướng phổ cập cho trẻ năm tuổi và đang mở rộng hỗ trợ học phí cho bậc mầm non, kèm các chính sách riêng cho vùng khó khăn. Đường cong Heckman không quyết định lựa chọn đó, nhưng nhắc rằng chất lượng ở nơi trẻ thiệt thòi theo học là chỗ đồng tiền sinh lời nhiều nhất.

Hiện trạng tranh luận: đồng ý ở đâu, còn bất đồng ở đâu

Gác lại các con số, có một vài điểm mà phần đông giới nghiên cứu chấp nhận. Năm năm đầu là giai đoạn não bộ và các kỹ năng nền hình thành nhanh. Những chương trình chất lượng cao cho trẻ thiệt thòi đã được chứng minh tạo ra tác động lâu dài. Kỹ năng phi nhận thức quan trọng và có thể nuôi dưỡng được. Bù đắp muộn thường khó hơn phòng ngừa sớm.

Phần còn tranh luận là độ dốc thật của đường cong, liệu nó có đúng với chương trình phổ cập cho mọi trẻ, và liệu chất lượng của mầm non đại trà đủ cao để đạt mức sinh lời của các chương trình mẫu hay không. Một số nhà kinh tế cho rằng thay vì một đường cong trơn, nên nghĩ theo từng chương trình: chương trình tốt sinh lời cao ở bất kỳ tuổi nào, chương trình kém thì không sinh lời dù làm sớm.

Heckman và các cộng sự cũng đã điều chỉnh cách trình bày qua thời gian, nhấn mạnh hơn vào chất lượng và vào việc kết nối giai đoạn sớm với các giai đoạn sau, thay vì chỉ nói "càng sớm càng tốt". Đó là cách đọc nên giữ khi gặp hình vẽ này.

Đọc đường cong Heckman khi nó xuất hiện trong lời giới thiệu trường

Đường cong là một luận điểm chính sách công, không phải một lời hứa với từng gia đình. Khi một tài liệu tuyển sinh dùng nó để nói rằng cho con học chương trình của trường sẽ "sinh lời gấp nhiều lần", người đọc nên hỏi ba câu. Chương trình của trường giống các chương trình đã được đánh giá ở điểm nào: tỷ lệ cô trên trẻ, trình độ giáo viên, sự ổn định nhân sự, cách làm việc với gia đình? Con số sinh lời được trích là của nghiên cứu nào, trên nhóm trẻ nào? Và trường đo chất lượng của chính mình bằng cách gì?

Với gia đình, bài học thực tế của dòng nghiên cứu này khá giản dị: những năm đầu đáng được đầu tư, nhưng đầu tư nghĩa là môi trường có nhiều tương tác chất lượng, ổn định, an toàn, chứ không phải đẩy trẻ học sớm nội dung của lớp trên. Chính các chương trình làm nên tiếng tăm cho đường cong cũng không dạy trước chương trình tiểu học; chúng chú trọng ngôn ngữ, chơi có mục đích, kỹ năng xã hội và quan hệ với cha mẹ.

Với người làm chính sách và quản lý giáo dục ở Việt Nam, đường cong là lý lẽ để ưu tiên chất lượng nhóm trẻ và mẫu giáo cho vùng khó khăn, khu công nghiệp, nơi trẻ ít được đầu tư ở nhà, kèm theo việc đánh giá thật sự chất lượng thay vì chỉ đếm tỷ lệ huy động trẻ ra lớp.

Câu hỏi thường gặp

James Heckman nhận giải Nobel vì đường cong này phải không?

Không. Heckman nhận giải Nobel Kinh tế năm 2000 cùng Daniel McFadden vì các đóng góp cho kinh tế lượng vi mô, cụ thể là phương pháp phân tích mẫu chọn lọc. Công trình về hình thành kỹ năng và giáo dục sớm phần lớn ra đời sau đó, dù chính danh tiếng Nobel giúp đường cong được chú ý rộng rãi.

Đường cong Heckman có phải là kết quả đo được không?

Hình dạng đường cong chủ yếu là minh hoạ cho một mô hình lý thuyết, được hỗ trợ bằng ước tính từ một số chương trình cụ thể. Nó không phải là đường vẽ từ việc đo tỷ suất của tất cả các chương trình ở mọi lứa tuổi. Khi có người làm việc đó, như Rea và Burton năm 2020, đường dốc không hiện ra rõ ràng.

Kỹ năng phi nhận thức gồm những gì?

Trong cách dùng của các nhà kinh tế, nhóm này gồm sự kiên trì, khả năng tự kiểm soát, động lực, sự tận tâm, khả năng hợp tác, tức các phẩm chất ảnh hưởng tới thành công nhưng không nằm trong bài kiểm tra trí tuệ. Các nhà tâm lý học thường dùng những khái niệm cụ thể hơn như chức năng điều hành hay các đặc điểm tính cách.

Có nên vì đường cong mà cho con học thêm thật nhiều từ sớm không?

Không có cơ sở cho điều đó. Các chương trình làm nền cho đường cong tập trung vào chơi, ngôn ngữ, quan hệ người lớn và trẻ, và làm việc với gia đình, không dạy trước kiến thức lớp trên. Lịch học dày đặc có thể lấy mất thời gian chơi và nghỉ, vốn là điều kiện để trẻ phát triển.

Đường cong có đúng với Việt Nam không?

Chưa có nghiên cứu đánh giá tỷ suất theo tuổi đủ chặt chẽ ở Việt Nam để trả lời. Logic về kỹ năng sinh ra kỹ năng mang tính phổ quát, nhưng mức sinh lời phụ thuộc vào chất lượng chương trình, đối tượng trẻ và các lựa chọn sẵn có, nên không thể chép con số của Mỹ sang.

Tỷ suất sinh lời 7 đến 13 phần trăm có nghĩa là gì?

Đó là tỷ suất hoàn vốn nội bộ ước tính cho xã hội: nếu coi chi phí chương trình là khoản đầu tư và các lợi ích về sau quy ra tiền là dòng thu, thì mức lãi hằng năm tương đương nằm trong khoảng đó. Con số không phải lợi nhuận cho gia đình, và chỉ đúng với các chương trình được tính.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 028 6689 3333