GlobalStar.vnGlobal Star
Nghiên cứu về giáo dục sớm

Nghiên cứu Perry Preschool: thí nghiệm 123 trẻ ở Ypsilanti và điều nó chứng minh

Perry Preschool theo dõi 123 trẻ từ năm 1962 tới tuổi trung niên. Chương trình làm gì, kết quả nào vững, chỗ nào yếu và nên hiểu ra sao.

Wide shot of a sunlit 1960s style preschool room with low wooden tables, small children building with blocks, a teacher kneeling beside them seen from behind, warm film grain

Perry Preschool là một thí nghiệm có nhóm đối chứng bắt đầu năm 1962 ở thị trấn Ypsilanti, bang Michigan (Mỹ): 123 trẻ người Mỹ gốc Phi, ba đến bốn tuổi, nhà nghèo, được chia thành nhóm đi học mẫu giáo và nhóm không đi học, rồi được theo dõi tới năm 40 tuổi. Điều nghiên cứu cho thấy rõ nhất không phải trẻ thông minh hơn lâu dài, mà là nhóm đi học có tỷ lệ tốt nghiệp trung học cao hơn, ít bị bắt giữ hơn và thu nhập khi trưởng thành cao hơn nhóm đối chứng.

Đây là một trong những nghiên cứu được trích nhiều nhất mỗi khi ai đó nói "đầu tư cho mầm non là đầu tư sinh lời nhất". Chính vì được trích nhiều, nó cũng hay bị kể sai: người ta quên rằng mẫu chỉ có 123 người, rằng bối cảnh là nước Mỹ thập niên 1960, và rằng chỉ số IQ tăng lên lúc đầu đã biến mất sau vài năm. Phần dưới đi qua cách chương trình vận hành, các mốc theo dõi, những kết quả đứng vững và những chỗ giới học thuật vẫn tranh luận.

Chương trình Perry Preschool thật ra làm những gì

Người khởi xướng là David Weikart, khi đó phụ trách dịch vụ giáo dục đặc biệt của khu học chánh Ypsilanti. Ông lo vì học sinh từ khu dân cư nghèo của thị trấn liên tục bị xếp vào diện chậm phát triển và bỏ học sớm. Thay vì chờ các em vào tiểu học rồi mới hỗ trợ, ông thử can thiệp từ trước khi các em đến trường. Trường được đặt tại Perry Elementary School, vì thế mới có tên Perry.

Trẻ được chọn có ba điều kiện: gia đình thu nhập thấp, cha mẹ học vấn thấp, và điểm IQ khi vào chương trình trong khoảng 70 đến 85, tức thấp hơn mức trung bình. Lớp học kéo dài khoảng hai tiếng rưỡi mỗi buổi sáng, năm ngày một tuần, trong năm học. Phần lớn trẻ học hai năm, lúc ba và bốn tuổi. Mỗi giáo viên phụ trách chừng năm đến sáu trẻ, và giáo viên đều có chứng chỉ sư phạm, lương ngang giáo viên công lập.

Ngoài lớp học, mỗi tuần giáo viên đến thăm từng nhà khoảng một tiếng rưỡi để cùng cha mẹ làm các hoạt động với con. Chi tiết này hay bị bỏ quên khi người ta nhắc tới Perry, trong khi nó có thể là một phần của hiệu quả. Về phương pháp, chương trình dựa trên ý tưởng trẻ chủ động học qua quy trình "lập kế hoạch, thực hiện, nhìn lại", về sau phát triển thành chương trình HighScope. Điểm cần nhớ: Perry là một chương trình nhỏ, giáo viên giỏi, tỷ lệ cô trên trẻ rất cao, có thăm nhà. Nó không giống một lớp mẫu giáo đại trà ba bốn chục cháu.

Các mốc theo dõi từ năm 1962 tới tuổi trung niên

Giá trị của Perry nằm ở chỗ nhóm nghiên cứu không bỏ cuộc. Họ quay lại phỏng vấn, kiểm tra hồ sơ trường học, hồ sơ tư pháp và thu nhập của gần như toàn bộ người tham gia qua nhiều thập niên:

  • 1962–1967: năm đợt trẻ lần lượt vào chương trình; trẻ được chia vào nhóm học (58 em) và nhóm đối chứng (65 em).
  • Từ 3 đến 11 tuổi: đo IQ, khả năng ngôn ngữ, thành tích học tập hằng năm. Đây là giai đoạn chứng kiến chỉ số IQ của nhóm đi học vọt lên rồi thu hẹp dần về gần nhóm đối chứng.
  • 14, 15 và 19 tuổi: thành tích ở trường, tỷ lệ phải học chương trình giáo dục đặc biệt, tốt nghiệp trung học, hành vi phạm pháp.
  • 27 tuổi: báo cáo lớn đầu tiên về đời sống trưởng thành: việc làm, thu nhập, sở hữu nhà, số lần bị bắt.
  • 40 tuổi: báo cáo năm 2005 của Lawrence Schweinhart và cộng sự, với tỷ lệ giữ liên lạc rất cao trên toàn mẫu.
  • Sau 40 tuổi: các nhóm kinh tế học, nổi bật là nhóm của James Heckman, tiếp tục phân tích lại dữ liệu, mở rộng sang sức khoẻ tuổi trung niên và cả con cái của những người từng tham gia.

Một nghiên cứu theo dõi hơn bốn mươi năm mà giữ được gần đủ người là chuyện hiếm trong khoa học xã hội. Đó là lý do một mẫu nhỏ như vậy vẫn có sức nặng: không phải vì đông, mà vì dài và đầy đủ.

Kết quả nào đứng vững, kết quả nào đã phai

Bảng dưới gom các nhóm kết quả theo mức độ chắc chắn. Không ghi con số cụ thể ở đây vì mỗi báo cáo tính theo cách khác nhau; khi cần, nên đọc thẳng báo cáo gốc.

Nhóm kết quảNghiên cứu ghi nhậnMức độ tin cậy
Chỉ số IQTăng rõ trong một hai năm đầu, sau đó thu hẹp, tới tuổi tiểu học thì gần như không còn khác biệtVững, và chính vì vậy rất đáng chú ý
Thành tích và hành vi ở trườngÍt phải chuyển sang giáo dục đặc biệt, động lực học tập tốt hơnKhá vững
Tốt nghiệp trung họcTỷ lệ cao hơn ở nhóm đi học, rõ nhất ở các em gáiVững nhưng không đều giữa hai giới
Phạm phápÍt bị bắt hơn, ít bị bắt vì tội nghiêm trọng hơn tới tuổi 40Vững, là nguồn lợi ích kinh tế lớn nhất khi tính toán
Thu nhập, việc làm khi trưởng thànhCao hơn ở tuổi 27 và 40Khá vững, tuỳ cách đo
Sức khoẻ, thế hệ sauCác phân tích gần đây gợi ý có tác độngCòn mới, đang được thảo luận

Dòng đầu tiên là chỗ quan trọng nhất. Nếu chỉ đo IQ, người ta đã kết luận Perry thất bại vào khoảng năm 1970. Thực tế các khác biệt lớn lại nằm ở những thứ bài kiểm tra trí tuệ không đo: sự bền bỉ, cách cư xử, động lực, khả năng hợp tác. Các nhà kinh tế gọi chúng là kỹ năng "phi nhận thức", và chính từ Perry mà nhóm này được chú ý nhiều trong kinh tế học giáo dục.

Những giới hạn mà người trích dẫn hay bỏ qua

Mẫu nhỏ. Với 58 và 65 trẻ ở hai nhóm, mỗi người tham gia có sức nặng lớn trong phép thống kê. Vài trường hợp thay đổi cũng đủ làm một kết quả từ có ý nghĩa thành không có ý nghĩa. Khi nghiên cứu đo hàng chục chỉ tiêu, nguy cơ có kết quả "ăn may" càng cao. Nhà kinh tế Michael Anderson năm 2008 phân tích lại Perry cùng Abecedarian và một chương trình khác, có hiệu chỉnh cho việc kiểm nhiều giả thuyết cùng lúc, và thấy nhiều tác động rõ ở nữ nhưng yếu hơn hẳn ở nam.

Phân nhóm không hoàn toàn ngẫu nhiên. Trẻ được chia theo một quy trình có yếu tố ngẫu nhiên, nhưng có điều chỉnh: anh chị em ruột được xếp cùng nhóm, vài trẻ được đổi nhóm vì mẹ đi làm và không thể đưa đón. Các phân tích sau đó phải dùng phương pháp thống kê riêng để tính đến những chỗ lệch này.

Bối cảnh rất khác hôm nay. Thập niên 1960, trẻ ở nhóm đối chứng gần như không có lựa chọn mẫu giáo nào khác, nên khoảng cách giữa "đi học" và "không đi học" rất lớn. Ngày nay, ở Mỹ cũng như ở Việt Nam, nhóm so sánh hiếm khi là "không gì cả", mà là một lớp khác, một nhóm trẻ khác. Hiệu quả đo được vì vậy thường nhỏ hơn.

Đối tượng hẹp. Perry làm với trẻ có nguy cơ cao. Không có cơ sở để suy ra rằng một chương trình giống hệt sẽ tạo ra khác biệt tương tự với trẻ con nhà khá giả, vốn đã có nhiều điều kiện ở nhà.

Perry vào kinh tế học: con số tỷ suất sinh lời từ đâu ra

Phần lớn tiếng vang của Perry đến từ các nhà kinh tế. Họ quy đổi các kết quả như bớt phạm pháp, bớt chi cho giáo dục đặc biệt, tăng thu nhập và thuế nộp cho nhà nước thành tiền, rồi so với chi phí vận hành chương trình. Nhóm High/Scope công bố tỷ lệ lợi ích trên chi phí rất cao. Năm 2010, James Heckman cùng các cộng sự công bố trên Journal of Public Economics một ước tính thận trọng hơn: tỷ suất sinh lời xã hội vào khoảng 7 đến 10 phần trăm mỗi năm, tức cao hơn lợi tức dài hạn của thị trường chứng khoán Mỹ.

Con số đó cần đọc kèm điều kiện. Phần lớn lợi ích đến từ việc giảm tội phạm, mà giá trị quy đổi của một vụ phạm tội phụ thuộc rất nhiều vào cách tính thiệt hại cho nạn nhân. Đổi giả định là con số đổi theo. Ngoài ra, đây là tỷ suất của một chương trình nhỏ, chất lượng cao, cho nhóm trẻ thiệt thòi, ở một thời điểm cụ thể. Nó là bằng chứng cho thấy giáo dục sớm có thể sinh lời, không phải lời hứa rằng mọi chương trình mầm non đều sinh lời ở mức đó.

Một bài học phương pháp nữa: Perry cho thấy đánh giá một chương trình mầm non bằng bài kiểm tra cuối năm là quá ngắn. Những gì quan trọng nhất có thể chỉ hiện ra mười, hai mươi năm sau. Quan điểm này về sau thành nền cho cả một dòng nghiên cứu về hiệu ứng phai dần và hiệu ứng muộn.

Đem bài học Perry về bối cảnh Việt Nam thế nào cho đúng

Việt Nam đã phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi, và tỷ lệ trẻ ba bốn tuổi đi học ở đô thị rất cao. Vì vậy câu hỏi đặt ra cho phần đông gia đình không còn là "có nên cho con đi mẫu giáo không" như ở Ypsilanti năm 1962, mà là "lớp nào, chất lượng ra sao". Ở câu hỏi thứ hai, Perry gợi ý vài điểm đáng nhìn: số trẻ mỗi cô phụ trách, trình độ và sự ổn định của giáo viên, mức độ trường làm việc cùng cha mẹ, và việc trẻ có được chủ động lựa chọn, lập kế hoạch cho hoạt động của mình hay chỉ ngồi nghe.

Perry cũng nhắc rằng nhóm hưởng lợi nhiều nhất là trẻ thiếu điều kiện ở nhà. Với chính sách công, đó là lý lẽ cho việc ưu tiên trẻ vùng khó khăn, trẻ con công nhân ở khu công nghiệp, trẻ không có người chăm ban ngày. Với phụ huynh có điều kiện, kết quả Perry không có nghĩa con mình sẽ "giỏi hơn" nhờ đi học sớm, mà là môi trường tốt giúp nuôi những kỹ năng khó đo như bền bỉ, tự chủ và hợp tác.

Cuối cùng, nên cẩn trọng khi thấy một lời giới thiệu viết "theo nghiên cứu Perry, mỗi đồng đầu tư cho mầm non sinh lời gấp nhiều lần". Câu đó đúng với một chương trình cụ thể, đo trên một nhóm trẻ cụ thể. Một trường mầm non ở bất kỳ đâu muốn dẫn Perry thì nên giải thích được mình giống Perry ở những điểm nào.

Câu hỏi thường gặp

Perry Preschool có phải thử nghiệm ngẫu nhiên đúng chuẩn không?

Gần đúng nhưng không hoàn hảo. Trẻ được phân nhóm theo quy trình có yếu tố ngẫu nhiên, sau đó có điều chỉnh như xếp anh chị em ruột cùng nhóm và đổi nhóm vài trẻ vì hoàn cảnh gia đình. Các nhà nghiên cứu về sau dùng kỹ thuật thống kê để tính đến các điều chỉnh này, và kết quả chính về cơ bản vẫn giữ được.

Vì sao IQ phai đi mà kết quả trưởng thành vẫn tốt hơn?

Lời giải thích được nhiều người chấp nhận là chương trình tác động lên những kỹ năng không nằm trong bài đo IQ: động lực, sự kiên trì, khả năng tự điều chỉnh hành vi, quan hệ với thầy cô. Những kỹ năng này giúp trẻ đi qua trường học suôn sẻ hơn, từ đó ảnh hưởng tới tốt nghiệp, việc làm và hành vi. Đây vẫn là cách giải thích, chưa phải cơ chế đã được chứng minh trọn vẹn.

Chương trình HighScope ngày nay có giống Perry năm 1962 không?

HighScope phát triển từ cách làm của Perry, giữ ý tưởng trẻ chủ động lập kế hoạch, thực hiện và nhìn lại. Nhưng một chương trình mang tên HighScope hôm nay không mặc nhiên có các điều kiện của Perry như tỷ lệ cô trên trẻ rất cao hay thăm nhà hằng tuần. Hiệu quả của Perry không tự chuyển sang cho bất kỳ lớp nào dùng tên đó.

Kết quả Perry có áp dụng cho trẻ ở gia đình khá giả không?

Không có bằng chứng trực tiếp. Perry chỉ làm với trẻ có nguy cơ cao, nhà nghèo, IQ đầu vào thấp. Các nghiên cứu khác cho thấy trẻ thiệt thòi thường hưởng lợi nhiều hơn từ giáo dục sớm chất lượng, còn trẻ có điều kiện ở nhà tốt hưởng lợi ít hơn tính theo khoảng cách so với nhóm đối chứng.

Có nghiên cứu nào lặp lại Perry ở quy mô lớn không?

Không có bản sao y hệt, nhưng có nhiều chương trình cùng tinh thần được đánh giá chặt chẽ, như Abecedarian ở Bắc Carolina, Chicago Child-Parent Centers và các chương trình mẫu giáo công ở Boston, Tennessee. Kết quả của chúng không đồng nhất, và chính sự không đồng nhất đó cho thấy chất lượng thực thi quyết định rất nhiều.

Nên đọc tài liệu gốc nào nếu muốn tìm hiểu sâu?

Có thể bắt đầu bằng báo cáo theo dõi tới 40 tuổi của Schweinhart và cộng sự năm 2005, rồi đọc bài của Heckman và cộng sự năm 2010 về tỷ suất sinh lời, và bài phân tích lại của Michael Anderson năm 2008 để thấy góc nhìn phản biện. Đọc cả ba sẽ thấy rõ chỗ mạnh và chỗ yếu.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 028 6689 3333